Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
tìm cách dùng tiền gửi này cho vay nhằm kiếm đợc lợi nhuận, bù đắp cho
tiền lãi cao phải trả để tránh thiệt hại. Việc cho vay có thời hạn bằng những
khoản tiền gửi không kỳ hạn và ngời gửi có quyền rút ra bất cứ lúc nào là
một điều rất mạo hiểm. Bởi vì nếu có nhiều ngời gửi tiền cùng lúc viết séc rút
tiền, trong khi tiền của họ ngân hàng đã cho vay và cha đến hạn thu hồi thì
dự trữ ở đây có ý nghĩa rất quan trọng. Tình trạng kẹt thanh toán và mất khả
năng trả nợ rất dễ xảy ra và tác động lan truyền rất nhanh. Do vậy, NHTM
luôn luôn phải có dự trữ cao để chi trả cho những tờ séc của tiền gửi không
kỳ hạn. Từ năm 1980 trở đi mặc dù tiền gửi không kỳ hạn đã đợc phép trả lãi
suất nhng do lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm cao hơn đã chiến
thắng sự tiện lợi của việc dùng séc và hơn nữa là sự ra đời của tài khoản
NOW.
Tiền gửi giao dịch hởng lãi ra đời ở Anh trong thập kỷ 70 của thế
kỷ XX. NOW là sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hởng lãi và tiền gửi
tiết kiệm NOW là tài khoản rút tiền có thể thơng lợng. NOW là tài khoản rút
tiền hởng lãi do vậy nó yêu cầu khách hàng phải thông báo trớc về việc rút
tiền. Do đòi hỏi này ít khi đợc thực hiện nên NOW đợc sử dụng nh là một tài
khoản phát séc để chi trả cho mua hàng hóa và dịch vụ.
Tài khoản NOW chỉ thích hợp với những giao dịch nhr dành cho khu
vực không kinh doanh nh: các cá nhân, hộ gia đình, công nhân viên chức,
đơn vị kinh doanh nhỏ, đây là những bộ phận có thu nhập vừa phải, việc
chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm lãi suất cao sang tài khoản séc cho chi tiêu
của họ không ảnh hởng nhiều đến ngân hàng cũng nh tình hình dự trữ của nó.
Tuy nhiên đối với những giao dịch lớn việc chuyển tiền một cách tự động sẽ
gây ảnh hởng rất nặng nề đến dự trữ và khả năng chi trả của NHTM. Những
khoản tiền gửi tiết kiệm là những khoản tiền gửi định kỳ luôn luôn đợc cân
đối bằng những khoản đâù t có thời hạn bên tài sản có. Những thao tác rút
tiền bất ngờ nh tài khoản NOW với những khoản tiền lớn, dễ đẩy các NHTM
đến chỗ khó có khả năng thanh toán.
Do đặc điểm không ổn định của tài khoản NOW khi có những giao dịch
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
lớn gây tác động đến các ngân hàng nên ngày nay các ngân hàng khôg tập
trung nhiều vào việc thu hút nguồn vốn này.
Sự ra đời của 2 loại tài khoản giao dịch hởng lãi quan trọng là tài khoản
tiền gửi trên thị trờng tiền tệ (MMDA) và tài khoản "super NOW".
Hai loại tài khoản này trả lãi theo lãi suất thị trờng tiền tệ và khách hàng
có thể thực hiện thanh toán cho các giao dịch mua hàng hóa thông qua việc
thực hiện hành séc hay hối phiếu uỷ quyền trớc.
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần
hay vài tháng và ngân hàng có thể trả trớc mức lãi suất ở mức đủ lớn để nắm
giữ tiền gửi của khách hàng.
Super - NOW (SNW) ra đời gần nh cùng thời gian với MMDA nhng tài
khoản này chỉ có thể nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Ngân
hàng áp dụng mức lãi suất đối với SNW thấp hơn so với MMDA vì SNW có
thể đợc phát hành thờng xuyên hơn.
b. Tiền gửi phi giao dịch.
Tiền gửi phi giao dịch là các tài khoản tiền gửi của khách hàng trong đó
không vì các mục tiêu thanh toán và chi trả mà vì các mục tiêu kinh doanh để
hởng lãi.
Tiền gửi phi giao dịch là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng, ng-
ời gửi đợc quyền hởng lãi nhng không đợc quyền phát séc thanh toán từ tài
khoản này.
Tiền gửi phi giao dịch không đợc rút khi cha đến hạn. Tuy nhiên, do sự
cạnh tranh thu hút tiền gửi, các NHTM cho phép những ngời gửi rút tiền khi
có nhu cầu nhng chỉ đợc hởng lãi suất tính nh tiền gửi giao dịch. Nhìn chung
mức lãi suất của tiền gửi phi giao dịch cao hơn so với tiền gửi giao dịch và
đây là nguồn huy động chủ yếu của ngân hàng.
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm:
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm đợc lập ra để thu hút vốn của những ngời
muốn giành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu
tài chính đợc dự tính trong tơng lai. Các tầng lớp dân c đều có các khoản thu
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
nhập tạm thời cha sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm), trong điều kiện có khả
năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các
mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm.
Lãi suất áp dụng cho loại tiền này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao
dịch. Trong khi chi phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản
tiết kiệm nói chung thấp. Cũng nh đối với tài khoản tiền gửi phi giao dịch,
các công cụ thu hút tiền gửi tiết kiệm đã đợc ngân hàng thu hút trong nhiều
thập kỷ.
+ Tiết kiệm lập sổ đợc cung cấp cho khách hàng là gia đình với giá trị
nhỏ và có đặc quyền rút vốn không bị hạn chế.
+ Tài khoản tiết kiệm thông báo trong đó thông qua việc truy nhập trên
máy tính khách hàng sẽ nhận đợc các bản thống kê thể hiện số tiền gửi, lệnh
rút tiền, lãi và tài khoản số d hàng tháng.
Tài khoản tiền gửi kỳ hạn:
Từ nhiều năm nay, những ngời giàu có và các doanh nghiệp đợc cung
cấp tài khoản gửi kỳ hạn trả lãi suất cố định với kỳ hạn xác định.
Gần đây tiền gửi kỳ hạn đợc phát hành với lãi suất thay thế định kỳ.
Tiền gửi loại này có kỳ hạn tối thiểu là 7 ngày và không đợc rút trớc thời hạn.
Tiền gửi kỳ hạn rất đa dạng về chủng loại, từ chứng chỉ tiền gửi có thể
chuyển nhợng (negotiable CDs) tới tiền gửi giáng sinh, tiền gửi cho đi nghỉ
Chứng chỉ tiền gửi phân làm 2 loại: có thể chuyển nhợng (có thể trao
đổi trớc mãn hạn) và loại không thể chuyển nhợng.
* Ngoài ra tiền gửi phi giao dịch còn bao gồm tài khoản tiền hu trí cá
nhân đợc cung cấp bởi các ngân hàng, các tổ chức tiết kiệm, các Công ty môi
giới, Công ty bảo hiểm và quỹ tơng trợ hoặc bởi chủ doanh nghiệp với những
kế hoạch và phân chia lãi hay lơng hu hợp pháp.
* Một bộ phận tơng đối lớn là tiền gửi của các cơ quan chính quyền. Ví
dụ khi một trờng học phát hành trái phiếu sẽ đợc gửi vào tài khoản của nó ở
ngân hàng địa phơng.
* Các ngân hàng lớn cũng sử dụng mạng lới chi nhánh tại nớc ngoài
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
trong hoạt động huy động tiền gửi và lu giữ số tiền nhận đợc từ nớc ngoài dới
tên gọi tiền gửi tại các chi nhánh nớc ngoài.
1.1.2.2. Các khoản vay:
Ngân hàng thơng mại chủ yếu cho vay bằng nguồn vốn nhận tiền gửi,
song không phải lúc nào nguồn vốn đó cũng đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng,
nhiều khi cả tiền thanh toán cho khách hàng. Trớc tình huống nh vậy, ngân
hàng thơng mại không thể chờ có ngời đến gửi tiền để sử dụng nguồn vốn ấy
đợc. Bởi nếu ngân hàng không thanh toán kịp thời cho khách hàng thì ngân
hàng sẽ mất uy tín và bị phạt theo luật định hay cơ hội đầu t, cho vay sẽ qua
đi. Để giải quyết khó khăn đó, ngân hàng thơng mại có thể chủ động đi vay
để đáp ứng nhu cầu về vốn trớc mắt, ngân hàng thơng mại có thể đi vay từ
ngân hàng trung ơng, từ các tổ chức tín dụng hoặc vay của các tổ chức kinh
tế, dân c thông qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu Nguồn vốn đi vay chỉ
chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng nh-
ng nó thực sự cần thiết bởi ngân hàng thơng mại luôn cố gắng cho vay tới
mức tối đa có thể tối đa hoá lợi nhuận. Vì vậy, dù không mong muốn song
ngân hàng khó tránh khỏ những lúc thiếu tiền mặt chi trả hay không đáp ứng
nhu cầu hợp lý của khách hàng.
a. Vay từ ngân hàng trung ơng: Ngân hàng trung ơng với đặc điểm là
ngân hàng của các ngân hàng, là ngời cho vay sau cùng đối với các ngân
hàng thơng mại. Khi ngân hàng trung ơng cho phép một ngân hàng thơng
mại thành lập, thông thờng nó đợc hởng quyền vay tiền tại ngân hàng trung -
ơng khi thiếu hụt dự trữ hay thiếu vỗn. Khi ngân hàng thơng mại thiếu tiền
mặt không đáp ứng đợc thanh khoản, ngân hàng trung ơng áp dụng mức lãi
suất chiết khấu phạt cao hay thấp nh thế nào cũng phải cho ngân hàng thơng
mại vay để tránh những cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra. Thông qua
nghiệp vụ cho vay chiết khấu này, ngân hàng trung ơng có thể điều tiết đợc l-
ợng cung tiền cho nền kinh tế. Khi ngân hàng trung ơng muốn mở rộng cung
tiền, ngân hàng trung ơng áp dụng mức lãi suất chiết khấu thấp khuyến khích
các ngân hàng thơng mại vay để mở rộng cung tiền đối với nền kinh tế, qua
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
đó ngân hàng trung ơng đã mở rộng cung tiền. Ngợc lại khi muốn thắt chặt
cung tiền, ngân hàng trung ơng áp dụng mức lãi suất chiết khấu cao làm cho
ngân hàng thơng mại không dám mở rộng cho vay mà luôn phải có lợng dự
trữ thích hợp để tránh phải vay ngân hàng trung ơng với lãi suất cao. Hơn nữa
để đảm bảo tính điều tiết của ngân hàng trung ơng, ngân hàng trung ơng chỉ
cho ngân hàng thơng mại vay ngắn hạn và có tài sản đảm bảo vì chỉ nh vậy
ngân hàng trung ơng mới có phản ứng nhanh nhạy trớc những rối loạn trong
hệ thống tiền tệ bằng việc thay đổi lãi suất.
ở Việt Nam hiện nay ngân hàng Nhà nớc cho vay đối với các ngân hàng
thơng mại dới các hình thức sau:
* Cho vay chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, khế ớc mà các
ngân hàng thơng mại đã cho các khách hàng vay cha đáo hạn và các thơng
phiếu.
* Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng.
* Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: đây là hình thức tài trợ
vốn theo kế hoạch và chỉ phân phối cho các ngân hàng thơng mại quốc
doanh.
Do vậy ngân hàng trung ơng có lãi suất phụ thuộc nhiều vào chính sách
tiền tệ, vì vậy để hoạt động hiệu quả ngân hàng thơng mại phải xem xét lãi
suất chiết khấu của ngân hàng trung ơng trong từng thời kỳ để có kế hoạch sử
dụng vốn có hiệu quả, ngân hàng thơng mại nên giảm dự trữ để mở rộng tín
dụng khi lãi suất chiết khấu thấp, ngợc lại phải đảm bảo dự trữ để hạn chế
vay ngân hàng trung ơng khi ngân hàng trung ơng áp dụng lãi suất chiết khấu
cao.
b. Vay từ các tổ chức tín dụng khác:
Đây là nguồn vốn các ngân hàng vay mợn lẫn nhau và vay của các tổ
chức tín dụng khác nhau trên thị trờng liên ngân hàng. Các ngân hàng có dự
trữ vợt yêu cầu có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi
suất cao hơn. Ngợc lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay
mợn tức thời để đảm bảo thanh toán. Nh vậy nguồn vốn vay mợn từ các ngân
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và cho nhiều tr-
ờng hợp nó bổ sung và thay thế cho nguồn vốn vay mợn từ NHNN. Quá trình
vay mợn rất đơn giản, ngân hàng chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho
vay, khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc đợc đảm bảo bằng các chứng
khoán của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của
ngân hàng đi vay tăng lên.
c. Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Để giải quyết những thiếu hụt về dự trữ hay khó khăn về than toán, ngân
hàng thơng mại thờng vay ngân hàng trung ơng hay vay các tổ chức tín dụng.
Song đối với những nhu cầu vốn có kế hoạch trớc, ngân hàng thơng mại có
thể phát hành các loại kỳ phiếu hay trái phiếu để huy động nguồn vốn đáp
ứng đợc nhu cầu vốn theo kế hoạch cả về quy mô cũng nh thời hạn của
nguồn vốn. Kỳ phiếu và trái phiếu đều là công cụ nợ mà ngân hàng thờng
phát hành ra nhằm mục đích huy động thêm nguồn vốn đáp ứng những nhu
cầu vốn mà ngân hàng đã có kế hoạch từ trớc. Những nguồn vốn này cũng t-
ơng tự nh chứng chỉ tiền gửi, ngời sở hữu kỳ phiếu và trái phiếu chỉ đợc nhận
lại tiền ở ngân hàng phát hành khi đến hạn mà không đợc rút sớm nh tiền gửi
có kỳ hạn. Kỳ phiếu là công cụ nợ ngắn hạn, trái phiếu là công cụ nợ trung và
dài hạn của ngân hàng và khi ngân hàng thơng mại muốn phát hành những
công cụ thờng phải đợc sự nhất trí của ngân hàng trung ơng hay của Uỷ ban
chứng khoán quốc gia.
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
1.1.2.3. Nguồn vốn chủ sở hữu.
Cũng nh hầu hết các doanh nghiệp khác, để thành lập và đi vào hoạt
động, chủ sở hữu ngân hàng thơng mại phải bỏ ra vốn đầu t ban đầu và đợc
ghi vào điều lệ doanh nghiệp (vốn điều lệ). Vốn điều lệ của ngân hàng thơng
mại phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn tối thiểu mà luật quy định (vốn pháp
định). Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng thơng mại đợc hình thành do tích chất
sở hữu của ngân hàng quy định. Ngân hàng thơng mại thuộc sở hữu Nhà nớc
(ngân hàng thơng mại quốc doanh) có vốn điều lệ do ngân sách Nhà nớc cấp,
vốn điều lệ của ngân hàng thơng mại cổ phần do sự đóng góp của các cổ
đông dới hình thức phát hành cổ phiếu, ngân hàng thơng mại liên doanh có
vốn điều lệ do các bên tham gia liên doanh đóng góp.
Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phải không nhỏ hơn vốn pháp định, ở
Việt Nam mức vốn pháp định do ngân hàng Nhà nớc quy định, nhng mỗi
ngân hàng thơng mại có số vốn điều lệ khác nhau tuỳ thuộc chủ sở hữu ngân
hàng, quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đó. Vốn điều lệ của mỗi
ngân hàng thơng mại có thể thay đổi trong quá trình hoạt động, thờng nó đợc
bổ sung và tăng dần dới các hình thức nh đợc ngân sách Nhà nớc cấp bổ sung
đối với ngân hàng thơng mại quốc doanh, huy động thêm vốn từ các cổ đông
bằng cách phát hành thêm cổ phiếu đối với ngân hàng thơng mại cổ phần hay
bổ sung nguồn vốn từ lợi nhuận hay các quỹ đã đợc trích lập. Vốn điều lệ của
ngân hàng thơng mại thuộc sở hữu của ngân hàng và ngân hàng có toàn
quyền sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật. Nguồn vốn này chủ
yếu đợc ngân hàng sử dụng để mua sắm bất động sản, động sản, trang thiết
bị, góp vốn liên doanh, mua sắm cổ phần, cho vay hay cho các hoạt động
khác của ngân hàng.
Ngoài vốn điều lệ, trong quá trình hoạt động và tồn tại, ngân hàng thơng
mại còn trích lập các quỹ dự trữ theo quy định của pháp luật nh quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, quỹ bảo toàn vốn, quỹ dự trữ đặc biệt, quỹ đầu t phát
triển hình thành nên nguồn vốn tích luỹ của ngân hàng. Vốn tích luỹ, vốn
điều lệ và phần lợi nhuận cha chia đợc ngân hàng sử dụng làm nguồn vốn
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
kinh doanh đều là nguồn vốn tự có của ngân hàng thuộc chủ sở hữu của ngân
hàng.
Nguồn vốn tự có của ngân hàng thơng mại mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, nhng đây là nguồn vốn
quan trọng vì nó cho thấy đợc thực lực về tài chính cũng nh quy mô của ngân
hàng, là nguồn vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng tạo
cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Vốn tự có của ngân hàng thơng mại là
điều kiện pháp lý cơ bản, đồng thời là yếu tố tài chính quan trọng cho việc
đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, vì vậy quy mô vốn tự có là các
yếu tố quyết định quy mô huy động nguồn vốn tài sản có. Vốn tự có không
chỉ đợc xem nh sự đảm bảo thanh toán cho ngời gửi tiền khi phá sản mà còn
góp phần duy trì khả năng trả nợ bằng cách cung cấp một khoản tài sản dự
trữ để ngân hàng khỏi bị đe doạ bởi sự thua lỗ để có thể tiếp tục hoạt động đ-
ợc. Vốn tự có của ngân hàng thơng mại đóng vai trò là một tấm đệm giúp
chống lại rủi ro phá sản vì vốn tự có giúp trang trang trải thua lỗ về tài chính
cho tới khi ban quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đa ngân
hàng trở lại trạng thái hoạt động sinh lời. Vốn tự có càng lớn, sức chịu đựng
của ngân hàng thơng mại càng mạnh khi tình hình kinh tế - chính trị và tình
hình hoạt động của ngân hàng trải qua những giai đoạn khó khăn. Hơn nữa
nó còn tạo điều kiện cho ngân hàng thơng mại đa dạng hoá các hoạt động
ngân hàng qua đó có thể phân tán rủi ro và có đợc cơ hội tạo ra lợi nhuận
càng lớn.
Vốn tự có là nguồn vốn rất quan trọng của ngân hàng thơng mại song
đối với nhà quản lý ngân hàng, không phải vốn tự có càng lớn càng tốt vì vốn
tự có quá lớn sẽ làm cho tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có thấp. Ngợc lại, nếu
vốn tự có của ngân hàng thơng mại nhỏ sẽ làm trở ngại đến hoạt động của
ngân hàng. Vì vậy xác định vốn tự có ở mức nào là hợp lý là vấn đề mà các
nhà quản lý và điều hành ngân hàng luôn phải đặt ra. Thực tế hiện nay cha có
sự thống nhất về mức vốn tự có thích hợp cho các ngân hàng thơng mại của
các nhà chuyên môn, các nhà quản lý bởi mức vốn tự có của mỗi ngân hàng
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
còn phụ thuộc nhiều yếu tố nh tình hình kinh tế - chính trị, công nghệ ngân
hàng Theo thoả ớc Basel vào cuối năm 1993, hệ số vốn tự có so với tổng
tài sản có dựa trên cơ sở rủi ro của ngân hàng thơng mại phải đạt ở mức 8%.
Mức vốn tự có của mỗi ngân hàng thơng mại là mục tiêu của những động lực
khác nhau, xuất phát từ sự phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng th-
ơng mại trong nền kinh tế với xu hớng cạnh tranh ngày càng bình đẳng trong
khuôn khổ pháp lý. Vì vậy để có đợc mức vốn tự có thích hợp, các nhà quản
lý và điều hành phải phân tích nhiều yếu tố để đạt đợc sự hài hoà giữa lợi ích
của chủ sở hữu ngân hàng và lợi ích của khách hàng. Các nhà quản lý điều
hành ngân hàng phải dựa trên cơ sở các quy định của luật pháp, tình hình
kinh tế - chính trị, thực trạng công nghệ ngân hàng và tình hình hoạt động
của ngân hàng để xác định mức vốn tự có đảm bảo khả năng thanh toán đối
với khách hàng cũng nh đạt đợc tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có phù hợp.
1.1.2.4. Các nguồn khác:
a. Nguồn uỷ thác.
NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác nh uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu t,
uỷ thác cấp phát, uỷ thác gửi ngân hàng và thu hộ Các hoạt động này tạo
nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng.
Ví dụ: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn cho vay uỷ thác
hộ cho Nhà nớc đối với một số dự án trồng rừng với nguồn ngân sách hoặc
nguồn ODA. Theo hợp đồng giữa các bên, các nguồn vốn trên đợc chuyển về
NHNo & PTNT, để từ đó để chuyển tải đến địa điểm đã đợc xác định trớc.
Rất nhiều các tổ chức kinh tế, xã hội có cùng mục tiêu phát triển nh của
ngân hàng, có nguồn tài chính đã sử dụng mạng lới ngân hàng dẫn vốn tới
các mục tiêu. Kết quả là hình thành nguồn uỷ thác làm gia tăng nguồn vốn
của ngân hàng.
b. Nguồn trong thanh toán:
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (séc trong quá trình chi
trả, tiền ký quỹ để mở L/C ) có thể hình thành nguồn trong thanh toán.
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
c. Nguồn khác:
Các khoản nợ khác nh thuế cha nộp, lơng cha trả.
Trên đây là các nguồn vốn cơ bản trong hoạt động của ngân hàng thơng
mại. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là ngân hàng
thơng mại quốc doanh, nguồn vốn hoạt động theo điều lệ bao gồm vốn điều
lệ, nguồn vốn huy động, vốn đi vay, vốn uỷ thác và các loại vốn khác đợc
hình thành trong hoạt động kinh doanh đợc sử dụng theo quy định của ngân
hàng Nhà nớc. Trong đó nguồn vốn huy động là tài sản của chủ sở hữu, ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đợc quyền sử dụng và có trách
nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi. Nguồn vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi giao dịch, phi giao dịch của dân c, các tổ chức tín dụng, kinh
tế - xã hội trong nớc và ngoài nớc.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu.
1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động kinh
doanh của NHTM
1.2.1 Nguồn vốn là cơ sở nền tảng để NHTM hoạt động kinh doanh
Nh đã biết, nguồn vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy
trì và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh
giá hiệu quả các hoạt động kinh tế. Đối với ngân hàng, nguồn vốn còn là nền
tảng để tiến hành tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Thật vậy, với đặc trng
của Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng
tiền tệ và thị trờng vốn, nguồn vốn không còn là phơng tiện kinh doanh mà
nó còn là đối tợng kinh doanh chính của NHTM, trực tiếp quyết định quy mô
hoạt động tín dụng, năng lực thanh toán và các hoạt động khác của ngân
hàng. Nh vậy những ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ có nhiều thế mạnh trong
kinh doanh.
1.2.2 Quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM
Những NHTM có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên
cao cũng nh trang thiết bị phơng tiện kỹ thuật hiện đại là tiền đề quan trọng
Vũ Quý Đôn Tài chính - 42B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét