VSMT Vệ sinh môi trường
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho
GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng
nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ
thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất
khẩu với giá trị lớn.
Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là
vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị
ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề.
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng
như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững
các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản
lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng nghề, sản
xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng.
Dương Liễu là một trong những vùng trọng điểm CBNSTP của Hà Nội. Song,
hiện tại khu vực này đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do các hoạt động sản
xuất CBNSTP, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước thải và rác thải. Các giải pháp đã áp
dụng cho Dương Liễu chưa giúp cải thiện được tình hình do lượng thải ngày càng
lớn.
5
Bởi vậy học viên đã chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường
phục vụ phát triển bền vững làng nghề chế biến thực phẩm Dương Liễu, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu
- Đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường (nước thải và rác thải) tại làng
nghề Dương Liễu, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và cải thiện môi
trường của làng nghề hướng tới sự phát triển bền vững.
3. Nhiệm vụ
- Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, đồng thời xác
định rõ nội dung chính của đề tài nghiên cứu.
- Thu thập, xử lý và phân tích các tài liệu về các đặc điểm cơ bản về tự nhiên cũng
như kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu. Tìm hiểu cụ thể hiện trạng sản xuất của làng
nghề và xác định các nhân tố ảnh hưởng tới môi trường làng nghề.
- Tiến hành lấy mẫu và phân tích các mẫu nước, khí và rác tại làng nghề và lập
bảng kết quả.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường (nước thải, rác thải) làm cơ
sở đề xuất các giải pháp bảo vệ, cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững.
4. Kết quả chính đã đạt được
- Xác định được thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Dương Liễu: Đề tài
không chỉ xác định cụ thể nguồn gây ô nhiễm và đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi
trường làng mà còn phân chia các mức độ ô nhiễm khác nhau trên không gian của
làng nghề hiện nay. Đó là cơ sở quan trọng giúp ích cho việc thực hiện các giải pháp
giảm thiểu ô nhiễm.
6
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường của làng nghề,
gồm:
+ Giải pháp quy hoạch không gian sản xuất gắn với bảo vệ môi trường: Với hai
hình thức đó là quy hoạch tập trung và quy hoạch phân tán. Định hướng những đối
tượng nào nên đưa vào khu sản xuất tập trung và ổn định lại những hộ sản xuất phân tán
cho phù hợp.
+ Đề xuất các giải pháp thu gom và xử lý rác thải, nước thải.
+ Chú trọng giải pháp nâng cao năng lực quản lý môi trường gắn với sự tham gia
của cộng đồng trên cơ sở tìm hiểu rõ về hiện trạng sản xuất, hiện trạng môi trường của
khu vực và thu thập một số ý kiến của cộng đồng.
+ Một số giải pháp khác: Đổi mới kỹ thuật, công nghệ…
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện
trạng xản xuất, hiện trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề và một số giải pháp đề
xuất là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác quản lý môi trường của làng nghề
Dương Liễu.
- Việc nghiên cứu lý luận và gắn với thực tiễn của vùng nhằm hướng tới
những giải pháp mang tính khả thi sẽ có những ý nghĩa đáng kể cho định hướng quy
hoạch làng nghề nhằm bảo vệ môi trường.
- Qua đề tài này, học viên sẽ tích lũy được thêm nhiều kiến thức cũng như các
bài học kinh nghiệm có liên quan đến việc đánh giá tác động môi trường, xác định
mức độ ô nhiễm môi trường, quy hoạch bảo vệ môi trường, kiến thức về làng nghề
cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học…
6. Cấu trúc của luận văn.
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài.
- Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng môi trường làng nghề
Dương Liễu.
7
- Chương 3: Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Dương Liễu
và đề xuất một số giải pháp giảm thiểu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
a. Thế giới
Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình
nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922);
“Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928).
Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International – Hội đồng Quốc tế về
nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của
các quốc gia có nghề thủ công truyền thống. [Ngô Trà Mai, 2008]
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải
pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn. Thực tế nhiều quốc gia trong
khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Trung Quốc sau thời kỳ cải
cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng
với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn. Hay
Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống”
là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống
dựa theo “Luật nghề truyền thống”…[Trần Minh Yến, 2003]
Đối với các làng nghề CBNSTP, ở các nước châu Á như Thái Lan, Malaysia,
Trung Quốc…đã đặc biệt chú trọng tới các nghề chế biến tinh bột. Theo tác giả
8
Jesuitas của Thái Lan (1996), việc sử dụng phương pháp xử lý hiếu khí bằng bể
Acroten đối với nước thải chứa nhiều tinh bột thì lượng hữu cơ theo COD có thể
giảm tới 70%.
Một số nước đã sử dụng bể Biogas, tận dụng bã thải trong sản xuất tinh bột để
sản xuất khí sinh học, phục vụ cho các hoạt động khác (như chạy động cơ diezel).
Theo các tác giả Thery và Dang (1979); sau này là Chen và Lee (1980), Trung Quốc
đã sử dụng hơn 7 triệu bể lên men CH
4
, trong đó có khoảng 20.000 bể lớn tạo khí
chạy động cơ điezel khí sinh học với khoảng 4.000.10
6
m
3
khí/năm [Nguyễn Thị Kim
Thái, 2004].
Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường không
chính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thực hiện thành
công ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thức khác nhau” [Đặng
Đình Long, 2005]. Cũng theo Đặng Đình Long, các nghiên cứu của World Bank đã
chứng minh rằng, “dựa trên sức ép của cộng đồng, cộng với việc tăng cường năng
lực của các cơ quan quản lý môi trường có thể cải thiện được lượng phát thải tại các
cơ sở gây ô nhiễm”.
Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như: Côlômbia,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Băng-la-đét, Malaysia, In-đô-nê-xia… với phương
pháp cho điểm đơn giản để dân chúng nhận rõ cơ sở nào tuân thủ các tiêu chuẩn
chống ô nhiễm của quốc gia và địa phương; cơ sở nào không tuân thủ. Trung Quốc
đã cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảo luận của cộng đồng. Mức định
giá phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mức dân cư phải hứng chịu hậu quả của ô
nhiễm, mức thu nhập bình quân… Cùng với đó, chính phủ nước này cũng thường
xuyên nâng cao năng lực của cộng đồng trong nhận thức và hành động giải quyết các
vấn đề môi trường địa phương.
Ở In-đô-nê-xia, dưới áp lực của cộng đồng địa phương bằng việc phát đơn kiện
các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, qua đó chính phủ và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm làm
trung gian đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng đồng và
có những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm [Đặng Đình Long, 2005]…
9
Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước, Xã hội dân sự và cộng đồng
trong quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường. Đây là giải pháp
mang tính bền vững cho sự phát triển của xã hội.
b. Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những
khía cạnh và các mục đích khác nhau.
Trên khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu về làng
nghề ở nhiều cấp:
Về sách tham khảo: Có một số công trình như: “Làng nghề thủ công truyền
thống Việt Nam” [Bùi Văn Vượng, 1998]. Tác giả đã tập trung trình bày các loại hình
làng nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, trạm khắc đá, dệt, thêu
ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre đan, ngọc trai, làm trống. Ở
đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các bí
quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân và các làng nghề thủ
công truyền thống Việt Nam. Trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong
quá trình CNH – HĐH” [Dương Bá Phượng, 2001], tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ
lý luận đến thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện
hình thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan
điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong CNH – HĐH.
Cùng với hướng này còn có cuốn “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình
CNH – HĐH” [Mai Thế Hởn, 2003]…
Và nhiều công trình khác của nhiều tác giả như: “Phát triển làng nghề truyền
thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [Trần
Minh Yến, 2003], Làng Đại Bái – Gò đồng Bắc Ninh [Đỗ Thị Hào, 1987]; “Về hai
làng nghề truyền thống Phú Bài và Hiền Lương” [Bùi Thị Tân, 1999]…
Về đề tài nghiên cứu: Đề tài khoa học về việc “Hoàn thiện các giải pháp kinh tế
tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông
Hồng” [Học viện tài chính, 2004]; “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh
tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010” [Bộ
10
Thương Mại, 2003] Đặc biệt phải kể đến là đề tài “Nghiên cứu về quy hoạch phát
triển làng nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” của
Bộ NN & PTNT hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật (2002), đã điều tra nghiên cứu
tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố,
điều kiện KT-XH của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ công của làng
nghề Việt Nam (về nguyên liệu, thị trường, công nghệ, lao động…) [Trần Minh Yến,
2003]
Nhìn chung các tác giả đã làm rõ về khái niệm, lịch sử phát triển, đặc điểm,
thực trạng sản xuất và xu hướng phát triển của các làng nghề.
Ở khía cạnh môi trường: Gần đây, trong các nghiên cứu về làng nghề, vấn đề
môi trường đang được nhiều tác giả quan tâm, thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều
bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung:
Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường”, [Đặng Kim Chi và nnk,
2005]: Đây là một công trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực
trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay. Tác giả đã nêu rõ từ lịch sử phát
triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế, xã hội
của các làng nghề Việt Nam hiện nay. Cùng với đó là hiện trạng môi trường các làng
nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính). Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại
ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát
triển và mức độ ô nhiễm đến năm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm
bảo phát triển làng nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho
từng loại hình làng nghề của Việt Nam.
Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo
sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính
cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép
(TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi. Tỷ lệ người dân làng nghề mắc
bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt,
bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay
11
đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm
không khí từ làng nghề".
Nghiên cứu của PGS.TS Đặng Kim Chi cùng các cộng sự tại 3 làng nghề Bắc
Ninh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm ngày càng trầm
trọng. Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO
cao hơn 5mg/l so với TCCP (28 – 36 mg/l). Bụi ở khu vực dân cư có nồng độ cao
hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần. CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn
cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Không khí xung
quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28
lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 – 5
0
C; làng nghề
tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần,
nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần. [Lê Đức Thọ, 2008]
Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề:
Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề
Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân Trình
(2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam. Môi trường và
sức khoẻ người lao động. An toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa.
Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề.
Cuốn “Nghiên cứu nguy cơ sức khoẻ ở các làng nghề tại một số tỉnh phía
Bắc và giải pháp can thiệp” [Nguyễn Thị Liên Hương, 2006] cho thấy tình trạng sức
khỏe các làng nghề phía Bắc đều trong tình trạng báo động. Tỷ lệ người lao động có
phương tiện bảo hộ đạt TCVSLĐ thấp (22,5%); 100% các hộ sản xuất CBLT-TP
nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống rãnh. Nồng độ các chất khí gây ô nhiễm
trong môi trường (H
2
S, NH
3
…) có đến 3/5; 1/5 mẫu không đạt yêu cầu. Tỷ lệ người
mắc bệnh hô hấp chiếm 34,7%, bệnh về da chiếm tới 37,3%
Tại các làng nghề tái chế có mức độ ô nhiễm cao và mức độ ô nhiễm nghiêm
trọng. Qua nghiên cứu của Phan Thúy Yến và các cộng sự tại làng nghề tái chế chì
Đông Mai (Hưng Yên) cho thấy kết quả xét nghiệm đối với người lao động:
12
δALA/niệu > 10mg/l chiếm tới 67%; những người có số lượng hồng cầu giảm chiếm
19,4%; những người mắc bệnh do nhiễm chì chiếm 67,7%. Hay đối với các làng nghề
Bắc Ninh, điển hình như làng nghề Phong Khê, Phú Lâm có khoảng 50 xí nghiệp, với
70 phân xưởng sản xuất, khối lượng hàng hóa từ 18.000 đến 20.000 tấn sản
phẩm/năm, nhưng đồng thời thải vào môi trường 1.200 đến 1.500 m
3
nước thải/ngày
với hàm lượng coliform lớn hơn TCCP hơn 100 lần. (nước thải có chứa chủ yếu là
xút, thuốc thẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm màu). [Lê Đức Thọ, 2008]
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác về các khu vực làng nghề địa phương như
nghiên cứu về môi trường lao động một số các làng nghề Nam Định của Trần Văn
Quang và các cộng sự (2001); Nghiên cứu về môi trường, sức khỏe làng nghề chế biến
thuốc nam Thiết Trụ (Hưng Yên) của Đan Thị Lan Hương [Lê Đức Thọ, 2008]…
Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các
làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số
giải pháp. Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hầu như chưa nghiên
cứu một cách toàn diện nhất. Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và thực tế
khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn. Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô nhiễm cũng có
những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể, chi tiết
để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực trạng cũng như xu hướng của các
làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn.
Nghiên cứu về các giải pháp: Hiện tại, đối với mỗi công trình nghiên cứu về
vấn đề môi trường làng nghề ít nhiều đều có đề cập đến các giải pháp khác nhau
nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững.
Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và môi
trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự. Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu tổng quan
về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các làng nghề, tác giả
đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng nghề. Ở đây cũng đề cập
đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền
vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính, chính sách về thị trường, về cơ sở hạ
tầng, giáo dục môi trường…). Qua đó đề xuất các giải pháp, nhìn chung tập trung vào
13
hai nhóm chính là giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm
môi trường cho các làng nghề. Các giải pháp này được đề cập cụ thể hơn trong
“ĐTNC cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp
giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” (KC.08.09, 2005), cụ thể là
các “Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường” cho các làng
nghề nhựa; chế biến nông sản, thực phẩm; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm.
Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương, Trần Minh Yến, Đặng Vân
Trình… đã nêu trên đều có đề cập đến các giải pháp can thiệp.
Ngoài những giải pháp về kỹ thuật (sản xuất sạch hơn và sử dụng công nghệ
xử lý chất thải) thì trong công tác quản lý môi trường, các nhà nghiên cứu hiện đang
lưu ý đến một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu quả trong điều kiện của Việt
Nam hiện nay đó là giải pháp có sự tham gia của cộng đồng và phát triển làng nghề
gắn với phát triển du lịch. Về khía cạnh này có một số nghiên cứu, bài viết điển hình
như: “Sổ tay hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương
pháp có sự tham gia của cộng đồng” [Bùi Đình Toái, Nguyễn Thị Thu Quế, 2005];
“Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch bền vững” [Lê Hải, 2006]; “Phát
triển bền vững du lịch làng nghề sinh thái – văn hóa” [Nguyễn Thị Anh Thu, 2005);
Đặc biệt trong đó có nghiên cứu về “Tính cộng đồng và xung đột môi trường tại khu
vực làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và xu hướng biến đổi” [Đặng
Đình Long, 2005]. Nghiên cứu đã đề cập đến tình trạng xung đột môi trường hiện
nay tại các làng nghề Việt Nam, nhất là khu vực Đồng bằng sông Hồng. Các tác giả
đã nêu cơ sở lý luận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tính cộng đồng với xung
đột môi trường tại khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng và đã đi đến những kết
luận khá rõ ràng có liên quan như: chất lượng môi trường tại các làng nghề hiện nay là
rất xấu; nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường của cộng đồng còn hạn chế; Tâm lý
phổ biến của chính quyền và cộng đồng trước thực trạng ô nhiễm là sự trông chờ vào
các cấp cao hơn, chưa có ý thức tự giác; mô hình ứng xử cơ bản của người dân đối với
vấn đề môi trường là không biết làm gì và không có những hành vi cụ thể để bảo vệ môi
trường….
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét