- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển đất
nông lâm nghiệp.
- Mở rộng quản lý và sử dụng đất.
- Kiểm tra và đánh giá
Những tài liệu hướng dẫn trên là phương tiện tốt để tiến hành QHSDĐ
cho cấp xã theo phương pháp cùng tham gia.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước liên quan đến
QHSDĐ cấp xã.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm
bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia
đình và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài” (Điều 18)
[7]
. Luật đất đai năm 2003
quy định rõ 3 nhóm đất, trong đó nhóm đất nông nghiệp gồm 8 loại đất, nhóm đất
phi nông nghiệp gồm 10 loại đất và nhóm đất chưa sử dụng. Luật cũng đã quy định
cụ thể các quyền và trách nhiệm của người sử dụng. Tùy theo từng loại đất và mục
đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Theo luật đất
đai thì quy hoạch và kế hoạch việc sử dụng đất đai là một trong 8 nội dung quyền
của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai
[8]
. Luật đất đai là cơ sở
pháp lý cơ bản nhất cho QHSDĐ nông lâm nghiệp. Luật bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho Quy hoạch Lâm nghiệp.
Tính thống nhất cao giữa 2 luật Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển
rừng trong Quy hoạch và giao đất nông lâm nghiệp là xác định rõ vai trò của địa
phương, đặc biệt là cấp xã trong quy hoạch và giao đất giao rừng
[8],[9]
. Trong
nghị đinh 64/CP, điều 15 có nêu một số quyền hạn của cấp xã trong sử dụng đất
công ích
[10]
. Trong văn bản quan trọng nhất về giao đất Lâm Nghiệp là nghị định
02/CP của Chính phủ được thay bằng nghị định 163/1999/NĐ - CP ra ngày
01/11/1999 về giao đất, cho thuê đất Lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp có một số điều nói
tới nhiệm vụ và quyền hạn cấp xã trong Quy hoạch và giao đất giao rừng
[11]
.
5
Nghị định 01/CP về giao khoán đất Lâm nghiệp xác định rõ vai trò cấp xã như là
cơ quan nhà nước chứng nhận để các hộ nông dân được nhận khoán đất (điều 3,
mục 3)
[12]
. Điều 6 Quyết định số 245/1998/QĐ - TT ngày 21/12/1988 của Thủ
tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất LN
đã quy định rõ
[13]
trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của
UBND cấp xã, phường, thị trấn. Mặc dù các văn bản pháp quy chưa quy định rõ
quyền hạn đầy đủ của cấp xã trong QHSDĐ nông lâm nghiệp, nhưng cũng đã
nêu rõ một số điểm quan trọng trong QHSDĐ cấp xã đó là:
Để tiến hành quy hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và
đồng cỏ, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống, trên địa bàn xã phải làm
rõ các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp như: Về loại đất nông nghiệp phải làm
rõ đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp; các loại đất trong
nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đât chưa sử dụng. Về loại đất lâm nghiệp phải
làm rõ 3 loại đấ rừng: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng.
UBND xã tổ chức QHSDĐ của địa phương, thông qua HĐND và trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở QHSDĐ được phê duyệt UBND xã tổ chức cùng
nông dân trong xã tiến hành quy hoạch để lập kế hoạch xây dựng các dự án phát
triển của xã theo từng lĩnh vực. Ban Nông lâm – Địa chính của xã có trách nhiệm
phối hợp với các cơ quan để quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất, Quy hoạch và
lập kế hoạch xây dựng các dự án phát triển cấp xã.
Có thể nói, các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập không nhiều đến
QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp xã nhưng quan điểm của Đảng và Nhà nước về
QHSDĐ nông lâm nghiệp tương đối rõ ràng. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã
chú trọng đến QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp địa phương và coi QHSDĐ là nền
tảng cho các quy hoạch khác đồng thời là cơ sở cho giao đất, lập kế hoạch sử
dụng đất, xây dựng các dự án phát triển.
1.2.2. Các quan điểm, nghiên cứu và thử nghiệm liên quan tới QHSDĐ cấp xã.
Reichnberg (1992)
[14]
và các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt
Nam chưa có QHSDĐ. Quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vĩ mô được
6
xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai.
Vì vậy, việc tiến hành quy hoạch nông lâm nghiệp còn thiếu cơ sở thực hiện.
Reichnberg năm 1992, sau khi khảo sát 5 tỉnh trung tâm miền núi phía
Bắc cho rằng Quy hoạch vi mô ở Việt Nam nên được nghiên cứu để phát triển
khái niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh
[14]
bao gồm: phủ toàn bộ đất đai cấp
xã, nghĩa là Quy hoạch nông lâm nghiệp dựa trên QHSDĐ trên toàn bộ diện tích
hành chính trong xã, phối hợp các kế hoạch và các hoạt động giữa các cơ quan
Nhà nước, nghĩa là khi quy hoạch phải đề cập đến quy hoạch của các ngành do
cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, QHSDĐ phục vụ cho giao đất và cấp giấy
chứng nhận để sử dụng đất tốt hơn, tạo điều kiện cho cộng đồng tiến hành Quy
hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, cơ sở hạ tầng;
chuẩn bị và phê duyệt quy hoạch đất theo đúng luật định.
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp cấp xã
được thực hiện tại xã Tử Nê huyên Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai
Châu tỉnh Hòa Bình do dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp được thực
hiện từ năm 1993. Theo ông Nguyễn Văn Tuấn và Vũ Văn Mễ (1996), QHSDĐ
được coi là một nội dung chính và được thực hiện khi giao đất trên cơ sở tôn trọng
tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất có sự
tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản, chính quyền xã
[15]
… Bản
đánh giá về trường hợp Tử Nê cho thấy càn có một kế hoạch sử dụng đất chi tiết
hơn thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát
sinh sau quy hoạch, cần có sự điều chỉnh và thời sự hóa kế hoạch.
Chương trình phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 1996 – 2000 trên
phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái và Phú Thọ đã tiến
hành thử nghiệm quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở xây
dựng kế hoạch phát triển cấp thôn và hộ gia đình. Theo Bùi Đình Toái và
Nguyễn Hải Nam năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để
tiến hành QHSDĐ, tỉnh Hà Giang đã xây dựng và lập kế hoạch sử dụng đất 3
cấp: xã, thôn và HGĐ. Đến năm 1998, trên toàn vùng dự án có 76 thôn bản được
QHSDĐ theo phương pháp cùng tham gia. Phương pháp QHSDĐ dựa trên công
7
cụ PRA, căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất, với cách
tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn
[16]
. Tuy nhiên một số
mâu thuẫn giữa nhu cầu của cộng đồng và định hướng của Nhà nước và kế
hoạch của tỉnh, huyện cũng đã bộc lộ. Vấn đề này cũng được xuất hiện ở Yên
Châu tỉnh Sơn La. Vấn đề nghiên cứu ở đây là phương pháp QHSDĐ địa
phương sao cho phù hợp với chính sách về đất đai của Chính phủ và kết hợp hài
hòa với nhu cầu của cộng đồng.
Từ kết quả thử nghiệm ở Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sông
Bé , Vũ Văn Mễ cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất
hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu
nguyện vọng của người dân,… xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử
dụng tài nguyên
[15]
. Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế chung hiện nay về áp
dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp.
Trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm, năm 1996 cục kiểm lâm cho ra tài
liệu hướng dẫn “Nội dung trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn
xã”
[17]
. Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn
mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước
đây. Bản hướng dẫn này nên hoàn thiện ở những nguyên tắc và các phương pháp
cơ bản. Không nên hướng dẫn chi tiết dẫn đến ngộ sự nhận rằng việc QHSDĐ
nông lâm nghiêp cấp địa phương theo một chu trình cứng.
Trong khuôn khổ của chương trình hợp tác kỹ thuật Việt – Đức, dự án
phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã nghiên cứu và thử nghiệm phương
pháp QHSDĐ và Giao đất lâm nghiệp tại hai xã của hai huyện Yên Châu (Sơn
La) và Tủa Chùa (Lai Châu) trên cơ sở hướng dẫn của cục kiểm lâm. Với cách
làm 6 bước và lấy cấp thôn bản làm đơn vị chính để quy hoạch. Giao đất Lâm
nghiêp và áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao có
thể là kinh nghiệm tốt. Sự khác biệt ở đây là lấy cấp thôn bản làm đảm bảo quy
hoạch phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan và
nhiều người khác năm 1997
[18]
ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
8
Qua tổng kết và phân tích các nghiên cứu thử nghiệm có liên quan đến
QHSDĐ nông lâm nghiệp ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận cho nghiên
cứu như sau:
- Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về QHSDĐ nông lâm
nghiệp cấp xã. Những thử nghiệm về QHSDĐ nông lâm nghiêp cấp địa phương
chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận.
- Phương pháp QHSDĐ cấp xã đang còn lúng túng, nhiều điểm chưa rõ và
được vận dụng một cách khác nhau ở các chương trình, dự án và các địa
phương. Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân trong QHSDĐ
cấp vi mô đang được vận dụng và đạt được một số thành công nhưng hiệu quả
quy hoạch chưa được khẳng định.
- Cơ sở khoa học cho QHSDĐ cấp xã chưa rõ ràng. Mặt khác, thực tiễn về
quy hoạch này chưa có tổng kết và đánh giá. Vì vậy, nhiều vấn đề đang đặt ra là
cần tiếp tục nghiên cứu đặc biệt là mối quan hệ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vĩ
mô và vi mô trong QHSDĐ cấp xã.
9
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Về lý luận
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất
các giải pháp quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững.
2.1.2. Về thực tiễn
Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp theo hướng
bền vững tại Xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình.
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp quy của nhà nước về đất đai,
chính sách bảo vệ và phát triển rừng; điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội
và nhân văn của xã; các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến
quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp; một số mô hình sử dụng đất tại Xã
Minh Hóa, huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình. Trong đó tập trung nghiên cứu
sâu về đất nông lâm nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Xã Minh Hóa, huyện minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài cần tiến hành nghiên cứu những
nội dung chính sau:
2.3.1. Phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội.
- Phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường như: vị trí địa lý, địa
hình địa mạo, khí hậu thủy văn, các nguồn tài nguyên, cảnh quan môi trường.
- Thực trạng phát triển kinh tế xã hội: Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
các ngành, dân số lao động, việc làm, thực trạng phát triển các khu dân cư, thực
trạng phát triển cơ sở hạ tầng.
2.3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai của xã.
- Tình hình đất đai: Đánh giá công tác quản lý nhà nước đất đai sau khi ban
hành luật đất đai đến nay, những mặt làm được và những mặt chưa làm được
10
- Hiện trạng sử dụng đất: Hiện trạng sử dụng các loại đất (nông nghiệp,
lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng đất chưa sử dụng), từ đó
rút ra những luận định, kết luận về tính hợp lý, chưa hợp lý trong sử dụng đất.
- Biến động và tiềm năng đất đai: Căn cứ vào tình hình biến động quỹ đất qua
các năm 2005 – 2010, nhận xét sự biến động, từ đó đưa ra đánh giá nhu cầu sử dụng
đất và đánh giá tiềm năng các loại đất làm cơ sở cho việc đưa ra phương án QHSDĐ.
2.3.3. Đề xuất phương án QHSDĐ và lập kế hoạch sử dụng đất của xã.
- Xây dựng phương án QHSDĐ
+ Căn cứ pháp lý để xây dựng phương án QHSDĐ
+ Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
+ Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
+ Định hướng phát triển các ngành chủ yếu.
- Quy hoạch đất đai cho các mục đích khác nhau
+ Quy hoạch đất nông nghiệp
+ Quy hoạch đất phi nông nghiệp
+ Quy hoạch đất chưa sử dụng
2.3.4. Đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch
Đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch dựa trên kết quả tính toán về
mặt kinh tế cho một số cây trồng chính, hiệu quả xã hội, môi trường của phương
án trong quá trình triển khai thực hiện.
2.3.5 Các giải pháp tổ chức thực hiện phương án QHSDĐ
Các giải pháp về cơ chế chính sách, quản lý và chỉ đạo, vốn đầu tư, giống
và tiến bộ kỹ thuật, thu hồi và chuyển đổi đất.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu.
Thu thập tài liệu đã có tại địa phương kết hợp với khảo sát thực địa để
thực hiện các nội dung nghiên cứu:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
+ Địa hình địa thế
11
+ Khí tượng, thủy văn
+ Đất đai, thổ nhưỡng
+ Các nguồn tài nguyên
- Tài liệu về dân sinh kinh tế
+ Dân tộc, dân số và lao động
+ Tình hình sản xuất nông, lâm, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+ Tình hình về phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm và các
công trình phục vụ khác)
2.4.2. Phương pháp điều tra chuyên đề
Sử dụng phương pháp điều tra chuyên đề đất và lập đia bằng phương
pháp điều tra trên ô điển hình để thu thập bổ sung số liệu cần thiết hoặc kiểm
chứng, chọn lọc các tài liệu, số liệu hiện có.
2.4.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, dự báo và đánh giá hiệu
quả sau khi thực hiện quy hoạch
2.4.3.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu.
Trên cơ sở tài liệu số liệu đã khảo sát ở các bước thu thập, tiến hành biên
tập, tổng hợp và phân tích.
2.4.3.2. Phương pháp phân tích dự báo
Trên cơ sở các kết quả thống kê, tổng hợp và phân tích được tiến hành
phân tích dự báo:
- Sự phát triển, sự biến động của các nhu cầu có liên quan đến mặt bằng
sử dụng đất tương lai.
- Đề xuất các giải pháp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất nói chung và
đất sản xuất nông nghiệp trong tương lai.
2.4.3.3. Phương pháp công thức tính để đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện
quy hoạch.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu
Trên cơ sở tài liệu, số liệu đã khảo sát ở các bước thu thập, tiến hành
chỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt:
12
+ Các biểu mẫu thống kê số liệu hiện trạng sử dụng đất, phân loại cây
trồng vật nuôi.
+ Diễn biến tài nguyên rừng, kinh tế hộ gia đình.
+ Rút ra những khó khăn thuận lợi.
- Phương pháp phân tích dự báo
Trên cơ sở kết quả tài liệu, số liệu đã được tổng hợp, phân tích, tiến hành
phân tích dự báo:
+ Sự phát triển, sự biến động của các nhu cầu có liên quan đến mặt bằng
sử dụng đất tương lai.
+ Đề xuất các giải pháp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất nói chung và
đất sản xuất nông lâm nghiệp trong tương lai.
- Phương pháp công thức tính để đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện
quy hoạch.
13
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Điều kiện tự nhiên, KTXH xã Minh Hóa
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Minh Hóa là một xã miền núi nằm ở phía Đông Nam và cách trung tâm
huyện lỵ huyện Minh Hóa khoảng 7km, có vị trí địa lý như sau:
Tọa độ địa lý: Từ 17
0
30’30’’ đến 17
0
50’30’’ vĩ độ Bắc 160
0
05’17’’ đến
160
0
15’27’’ độ kinh Đông, có đường ranh giới và tiếp giáp:
+ Phía Bắc giáp xã Yên Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Đông giáp xã Tân Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Nam giáp xã Trung Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Tây giáp xã Quy Hóa huyện Minh Hóa
Tổng diện tích tự nhiên của xã là: 3.406,24 ha
3.1.1.2. Địa hình
Xã Minh Hóa có địa hình đồi núi, bị chia cắt bởi nhiều khe suối cạn thuộc
lưu vực sông Rào Nậy. Phần lớn khu dân cư và đất sản xuất nằm giữa các thung
lũng được bao quanh bởi các dãy núi đá cao, núi đất trung bình ở phía Bắc và
phía Nam. Địa hình rộng, nghiêng dần về giữa. Các khu dân cư, đất cho SXNLN
manh mún độc lập cách xa nhau dẫn đến việc đi lại, sản xuất, quản lý xã hội gặp
nhiều khó khăn. Trên phạm vi lãnh thổ xã Minh Hóa có các kiểu địa hình sau:
- Kiểu địa hình núi thấp: 1.255 ha chiểm 36,96%
- Kiểu địa hình núi đá vôi: 316 ha chiếm 9,30%
- Kiểu địa hình đồi thoải: 1.083 ha chiếm 31,89%
- Kiểu địa hình thung lũng: 742 ha chiếm 21,85%
3.1.1.3. Thổ nhưỡng
Do đặc điểm kiến tạo địa chất, về thổ nhưỡng có các loại đất chính sau:
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch phân bố trên các vùng đồi
thấp đến trung bình. Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, tầng đất khá dày (35 - 50
cm), đất tốt, không hoặc có độ đá lẫn rất thấp. Loại đất này có khả năng trồng các
loại cây như ngô, lạc, sắn, đậu các loại, cao su và các loại cây công nghiệp khác.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét