Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
I. Một số lý luận về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
1. Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố ảnh hởng đến đầu t trực tiếp nớc
ngoài.
1.1. Khái niệm
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó ng-
ời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngời trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử
dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu t trực tiếp nớc ngoài là kết quả tất yếu
của quá trình quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế.
Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu t nớc ngoài. Theo
hiệp hội luật quốc tế(1966) Đầu t nớc ngoài là sự di chuyển vốn từ nớc ngoài của
ngời đầu t sang nớc của ngời sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh
hay dịch vụ. Cũng có quan điểm cho rằng Đầu t nớc ngoài là sự di chuyển vốn
từ nớc của ngời đầu t sang nớc của ngời sử dụng nhng không phải để mua hàng
hoá tiêu dùng của nớc này mà dùng để chi phí cho các hoạt động có tính chất kinh
tế xã hội. Theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1987 và đợc bổ
sung hoàn thiện sau 4 lần sửa đổi(1989, 1992, 1996, 2000) Đầu t trực tiếp nớc
ngoài là việc các tổ chức và cá nhân nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền n-
ớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào đợc Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác
kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp
100% vốn nớc ngoài.
Nh vậy, đầu t trực tiếp nớc ngoài là hoạt động di chuyển vốn của các cá nhân
và tổ chức nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nớc ngoài và làm chủ toàn bộ
hay từng phần cơ sở đó.
1.2. Đặc điểm
Xuất phát từ khái niệm, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu t trực
tiếp nớc ngoài nh sau:
5
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
- Một là, các chủ đầu t nớc ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn
pháp định, tuỳ theo luật đầu t nớc ngoài (ví dụ: tại Việt Nam, khi liên doanh, số
góp vốn của bên nớc ngoài phải lớn hơn hoặc bằng 30%)
- Hai là, quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với
doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh
nghiệp và quản lý đối tợng hợp tác tuỳ thuộc vào mức góp vốn của các bên khi
tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài thì ngời nớc ngoài (chủ
đầu t) toàn quyền quản lý xí nghiệp.
- Ba là, lợi nhuận của nhà đầu t nớc ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh và đợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
- Bốn là, đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc thực hiện thông qua việc xây dựng
doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động
hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
- Năm là, đầu t trực tiếp nớc ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà
còn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý,
đồng thời tạo ra thị trờng mới cho cả phía đầu t và phía nhận đầu t.
- Sáu là, đầu t trực tiếp nớc ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh
doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài chịu ảnh hởng bởi rất nhiều nhân tố từ bên trong n-
ớc chủ nhà cũng nh các yếu tố từ bên ngoài:
a) Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong của nền kinh tế bao gồm tổng hoà các nhân tố chính
trị, kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên.
- Thứ nhất: Sự ổn định chính trị tạo môi trờng thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế của đất nớc. Nền chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện để các nhà đầu t mở
rộng kinh doanh. Đây là cơ sở để phát triển các ngành trong nền kinh tế. Đồng
thời, trình độ của nền kinh tế đặc biệt là tốc độ tăng trởng kinh tế quốc dân cao,
6
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
thu nhập bình quân đầu ngời đợc cải thiện là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu t di
chuyển vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vào các ngành có khả năng sinh lợi
cao để thu lợi ích.
- Thứ hai: Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng trong sự phát triển và thu
hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Với dân số trẻ và có học vấn khá, dễ tiếp thu
khoa học công nghệ, lao động của Việt Nam, nhất là lao động đã qua đào tạo thực
sự là một nguồn lực to lớn để phát triển và phát huy vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
- Thứ ba: Các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố quan trọng cho
sự hấp dẫn của các nhà đầu t nớc ngoài. Nguồn tài nguyên phong phú với trữ lợng
lớn, chất lợng cao sẽ là yếu tố thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài.
- Thứ t : Môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định nh tốc độ tăng trởng kinh tế cao và
ổn định lâu bền, kiềm chế đựơc lạm phát, ổn định giá trị nội tệ và tỷ giá hối đoái
sẽ là nhân tố trực tiếp ảnh hởng đến sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của các nhà
đầu t nớc ngoài. Chính vì vậy, nó ảnh hởng rất lớn đến thu hút vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài của nớc chủ nhà.
- Thứ năm: Khuôn khổ thể chế và pháp lý thuận tiện nh nền kinh tế mở, h-
ớng xuất khẩu, đồng tiền có khả năng chuyển đổi dễ dàng, chơng trình t nhân hoá
quy mô lớn, tham gia các khối thơng mại khu vực và thế giới, cơ sở hạ tầng vật
chất thuận lợi và hiện đại, hoàn thuế quan nhập khẩu, có các biện pháp khuyến
khích đầu t nớc ngoài là các yếu tố ảnh h ởng lớn đến thu hút và sử dụng đầu t
trực tiếp nớc ngoài.
-Thứ sáu: Bên cạnh các yếu tố trên đây, chính sách bảo hộ của chính phủ,
chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách độc quyền, chính sách ngoại thơng
(nh thuế quan, hạn ngạch ) của n ớc chủ nhà đôi khi cũng khiến các nhà đầu t nớc
ngoài tìm cách đặt cơ sở sản xuất kinh doanh ngay tại nớc chủ nhà để tránh những
chính sách này của nớc chủ nhà.
b) Các nhân tố bên ngoài
7
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
- Thứ nhất: Tình hình kinh tế xã hội, chính trị của nớc đi đầu t, chính sách
đầu t ra nớc ngoài của nớc đi đầu t (nh chính sách miễn thuế sản phẩm chế biến tại
một số cơ sở chế biến của họ tại nớc ngoài) ảnh hởng rất lớn đến đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài. Kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vừa qua
cho ta thấy rõ vấn đề này.
- Thứ hai: Quá trình tự do hoá thơng mại và đầu t làm cho các công ty xuyên
quốc gia phải cạnh tranh gay gắt với nhau trong việc tìm kiếm thị trờng mới. Do
vậy đây chính là động lực để các nhà đầu t nớc ngoài đi đầu t ở nớc khác.
-Thứ ba: Bên cạnh những yếu tố trên việc các nhà đầu t nớc ngoài phân tán
rủi ro bằng cách đầu t tại nhiều địa điểm khác nhau ở các nớc cũng là yếu tố để
các nhà đầu t đầu t ra nớc ngoài.
2. Các hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có thể đợc phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Nếu căn cứ vào tính pháp lý của đầu t trực tiếp nớc ngoài có thể chia FDI
thành các loại: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài. Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp vốn 100% vốn nớc ngoài là hình thức có thành lập pháp
nhân mới và luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam gọi chung là xí nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài.
Nếu căn cứ vào lĩnh vực đầu t có thể chia đầu t trực tiếp nớc ngoài thành các
loại: đầu t vào công nghiệp, đầu t vào nông nghiệp, đầu t vào dịch vụ .
Theo luật đầu t nớc ngoại tại Việt Nam, các hình thức đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam gồm ba hình thức sau:
a) Hợp đồng hợp tác kinh doanh
8
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để
cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không
thành lập pháp nhân mới. Thời hạn cần thiết của hợp đồng hợp tác kinh doanh do
các bên hợp tác thoã thuận phù hợp với tính chất, mục tiêu kinh doanh. Hợp đồng
hợp tác kinh doanh đợc ngời có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký.
b) Doanh nghiệp liên doanh
Theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam và nghị định 24/2000/NĐCP ngày
31/072000 của Chính phủ Việt Nam thì: doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp
đợc thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh đợc ký kết giữa các
bên(bên nớc ngoài và bên Việt Nam). Doanh nghiệp liên doanh có t cách pháp
nhân, các bên tham gia liên doanh cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng
phân chia lợi nhuận, rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn pháp định của
liên doanh.
c) Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu
của các tổ chức, cá nhân nớc ngoài do họ thành lập và quản lý. Xí nghiệp này là
một pháp nhân mới ở Việt Nam dới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn do chủ sở hữu chịu trách nhiệm.
Ngoài ra đầu t nớc ngoài tại Việt Nam còn đợc tiến hành theo cơ sở các hình
thức hợp đồng sau:
d) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT): là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để
xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết
thời hạn, nhà đầu t nớc ngoàI chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà
nớc Việt Nam.
e) Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh (BTO) là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu t nớc ngoài
9
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
chuyển giao công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dành cho
nhà đầu t quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi
vốn đầu t và lợi nhuận hợp lý.
f) Hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT) là văn bản ký kết giữa cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu t nớc ngoài chuyển giao
công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà
đầu t nớc ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu t và lợi nhuận hợp lý.
II. Tính tất yếu khách quan của việc thu hút vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài
1. Tính tất yếu của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong thế giới hiện nay
Trong lịch sử thế giới, đầu t nớc ngoài đã từng xuất hiện ngay từ thời tiền t
bản. Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công ty đi
đầu trong lĩnh vực này dới hình thức đầu t vốn vào các nớc Châu á để khai thác
đồn điền và cùng với ngành khai thác đồn điền này là ngành khai thác khoáng sản
nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc.
Trong thế kỷ XIX, do quá trình tích tụ và tập trung t bản tăng lên mạnh mẽ,
các nớc t bản lúc bấy giờ đã tích lũy đợc những khoản t bản khồng lồ. Khi mà quá
trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện nhu cầu
đầu t ra nớc ngoài. Đó chính là quá trình phát triển sức sản xuất xã hội đến độ đã
vợt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, hình thành nên quy mô sản xuất
trên toàn thế giới. Việc tích tụ, tập trung và xuất khẩu t bản là một hiện tợng kinh
tế mang tính tất yếu khách quan của nền kinh tế hiện đại.
Sau mỗi chu kỳ kinh tế, nền kinh tế của các nớc phát triển lại rơi vào một
cuộc suy thoái kinh tế, chính lúc này để vợt qua giai đoạn khủng hoảng nhằm tạo
ra những điều kiện phát triển đòi hỏi phải đổi mới t bản cố định. Thông qua hoạt
động đầu t nớc ngoài, các nớc công nghiệp phát triển có thể chuyển máy móc thiết
bị cần thay thế sang các nớc kém phát triển hơn và thu hồi đợc một phần giá trị để
10
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
bù đắp những khoản chi phí khổng lồ cho việc mua sắm máy móc thiết bị. Bên
cạnh đó những thành tựu khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ và
nhanh chóng đi vào ứng dụng trong sản xuất và đời sống, các chu kỳ kinh tế ngày
càng rút ngắn lại vì vậy yêu cầu đổi mới máy móc t hiết bị ngày càng cấp bách
hơn. Do đó các nớc tiên tiến tất yếu phải tìm nơi tiêu thụ các công nghệ loại hai,
có nh vậy mới đảm bảo thờng xuyên thay đổi công nghệ kỹ thuật mới.
Nguyên tắc lợi thế so sánh mà P.Vernon đã chứng minh rằng không có nớc
nào mạnh toàn diện và cũng không có nớc nào yếu toàn diện. Nếu chúng ta biết
hợp tác thì sẽ phát huy đợc sức mạnh tổng hợp cho tất cả các nớc. Qua hàm sản
xuất: Y= f (K,L), Giáo s P.Vernon gợi ý rằng với các nớc t bản phát triển nên tận
dụng lợi thế so sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng cao. Với các nớc đang phát triển
nên sử dụng lợi thế so sánh với những mặt hàng có hàm lợng lao động cao. Theo
nguyên tắc này cho phép hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài lợi dụng đợc những u
thế tơng đối của mỗi nớc, đem lại lợi ích cho cả hai bên, bên đi đầu t và bên nhận
đầu t. Các doanh nghiệp nớc ngoài có lợi thế so sánh về vốn và kỹ thuật, còn các
nớc nhận đầu t có lợi thế về lao động dồi dào với giá rẻ Do đó để khai thác đ ợc
lợi thế so sánh này tất yếu phải có quan hệ kinh tế quốc tế mà trong đó đầu t trực
tiếp nớc ngoài là một nhân tố quan trọng.
Nhà kinh tế học P.Samuelson cho rằng, để phát triển kinh tế các nớc đang
phát triển phải có biện pháp thu hút đợc FDI. Trong lý thuyết cái vòng lẩn quẩn
và cú hích từ bên ngoài, Samuelson cho rằng: Đa số các nớc đang phát triển
đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng
tích lũy vốn hạn chế. Những nớc dẫn đầu trong cuộc chạy đua tăng trởng phải đầu
t ít nhất 20% sản lợng vào việc tạo vốn. Trái lại, những nớc nông nghiệp nghèo
nhất thờng chỉ có tiết kiệm đợc 5% thu nhập quốc dân. Hơn nữa, phần nhiều trong
khoản tiết kiệm nhỏ bé này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những công cụ đơn
giản cho số dân đang tăng lên. Phần còn lại hầu nh rất ít cho phát triển.
Mặt khác, theo Samuelson, ở các nớc đang phát triển, nguồn nhân lực bị hạn
chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp, kỹ thuật lạc hậu, tài nguyên khan hiếm và đặc biệt
11
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
là gặp trở ngại trong việc kết hợp chúng. Do vậy, ở nhiều nớc đang phát triển ngày
càng khó khăn và càng tăng cái vòng lẩn quẩn.
Samuelson cho rằng: Để phát triển kinh tế phải có cú hích từ bên ngoài
nhằm phá vỡ cái vòng lẩn quẩn. Đó là phải có đầu t của nớc ngoài vào các nớc
đang phát triển. Theo ông, Nếu có quá nhiều trở ngại nh vậy đối với việc đi tìm
tiết kiệm trong nớc để tạo vốn thì tại sao không dựa nhiều hơn vào các nguồn từ
bên ngoài? Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng nói với chúng ta rằng, một nớc
giàu sau khi đã hút hết những dự án đầu t có lợi nhuận cao cho mình, cũng có thể
làm lợi cho chính nó và nớc nhận đầu t bằng cách đầu t những dự án lợi nhuận cao
ra nớc ngoài đó sao?
Ngày nay, xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình
phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các
nớc và các vùng lãnh thổ từng bớc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế
đó, chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách này kìm hãm
quá trình phát triển của xã hội. Một quốc gia hay vùng lãnh thổ khó tách biệt khỏi
thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã kéo con ngời ở khắp nơi trên thế
giới xích lại gần nhau hơn và dới tác động của quốc tế hoá khác buộc các nớc phải
mở cửa với bên ngoài. Vì vậy, đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những hình
thức kinh doanh quốc tế hữu hiệu nhất hiện nay, đã và đang trở thành phổ cập nh
một phơng thức tiến tạo.
2. Những lợi ích của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Việc huy động vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào một quốc gia hay một vùng
lãnh thổ đã và đang trở thành phơng thức hữu hiệu nhất, một yếu tố quan trọng
trong cơ cấu ngân sách phát triển của một quốc gia, một hình thức phổ biến trong
quan hệ kinh tế quốc tế vì nó mang lại lợi ích cho hai bên, bên chủ đầu t và bên
nhận đầu t.
2.1. Đối với chủ đầu t
- Thứ nhất: FDI giúp mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm, tăng cờng bành
trớng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hởng trên thế giới. Phần lớn các doanh
12
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài ở các nớc về thực chất hoạt động nh là chi nhánh
của các công ty mẹ ở chính quốc bằng việc xây dựng các nhà máy sản xuất, chế
tạo hoặc lắp rắp ở nớc sở tại. Sự mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm của các công
ty mẹ ở nớc ngoài, đồng thời còn là biện pháp thâm nhập thị trờng hữu hiệu tránh
đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nớc.
- Thứ hai: FDI giúp các công ty nớc ngoài giảm chi phí sản xuất rút ngắn
thời gian thu hồi vốn đầu t và thu lợi nhuận cao.
Do sự phát triển không đồng đều về trình độ sản xuất và mức thu nhập giữa
các nớc nên đã tạo ra chêch lệch về điều kiện và giá cả các yếu tố đầu vào của sản
xuất. Do đó đầu t nớc ngoài cho phép lợi dụng chênh lệch này để giảm bớt chi phí
sản xuất, trớc hết đó là chi phí lao động; việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm ở các nớc sở tại cũng giúp các chủ đầu t giảm đợc chi phí vận chuyển hàng
hoá, tiết kiệm chi phí quảng cáo, tiếp thị
- Thứ ba: FDI giúp các chủ đầu t tìm kiếm đợc nguồn cung cấp nguyên liệu.
Mục tiêu của nhiều dự án đầu t nớc ngoài là nhằm tìm kiếm nguồn nguyên
liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ đầu t. Trong khi đó, ở
các nớc phát triển nguồn tài nguyên có nhiều nhng không có điều kiện khai thác
chế biến do thiếu vốn, công nghệ. Do đó, đầu t vào các lĩnh vực này sẽ thu đợc
nguyên liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ thu đợc lợi nhuận cao.
- Thứ t : FDI giúp các chủ đầu t nớc ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng
công nghệ mới nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đổi mới thờng xuyên công nghệ là điều kiện sống còn trong cạnh tranh, do
đó các nhà đầu t nớc ngoài thờng chuyển máy móc, công nghệ đã lạc hậu so với
trình độ chung của thế giới để đầu t sang các nớc khác. Điều đó, một mặt giúp các
chủ đầu t thực chất bán đợc máy móc cũ để thu hồi vốn nhằm đổi mới thiết bị
công nghệ, kéo dài đợc chu kỳ sống của sản phẩm của hãng ở các thị trờng mới.
Đối với nớc nhận đầu t.
- Thứ nhất: FDI là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho vốn đầu t phát triển.
13
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào phát triển ngành Nông nghiệp ở VN - Thực trạng & giải pháp
FDI, là nguồn vốn bổ sung quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc, bù đắp cho sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nớc, đặc biệt là đối với
các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam vì hầu hết các nớc này đều có nhu
cầu vốn. Hơn nữa, các nớc đang phát triển có tỷ lệ vốn tích lũy trong nớc ở mức
thấp là một trở ngại lớn cho sự phát triển nền kinh tế xã hội. Đầu t trực tiếp nớc
ngoài góp phần huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu đầu t của nền kinh tế. Bên
cạnh đó FDI còn có những u thế hơn hẳn so với các hình thức huy động vốn khác
nh việc vay vốn nớc ngoài đôi khi trở thành gánh nặng cho nền kinh tế. Hoặc nh
các khoản viện trợ thờng đi kèm với điều kiện về chính trị, can thiệp vào công việc
nội bộ của một quốc gia. Điều này ít xảy ra đối với FDI.
FDI cũng bổ sung sự thiếu hụt về ngoại tệ đối với các nớc đang phát triển,
bởi vì FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu
của nớc nhận đầu t, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nớc ngoài, thu ngoại tệ
từ các hoạt động dịch vụ cho FDI.
- Thứ hai: FDI góp phần nâng cao năng lực công nghệ.
Song song với việc tạo nguồn vốn bổ sung, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn là
một kênh quan trọng để đa kỹ thuật mới, kỹ năng quản lý mới vào các nớc đang
phát triển. Thông qua FDI chúng ta có thể tiếp nhận đợc những công nghệ này.
Qua đó, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật của nớc nhận đầu t nh góp phần
tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm, xuất khẩu.
Hơn nữa thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm l-
ợng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là đối với các nớc nhận đầu
t. Cùng với chuyển giao công nghệ phần cứng tiên tiến, đầu t trực tiếp nớc ngoài
còn chuyển giao các công nghệ phần mềm nh kỹ năng quản lý,bí quyết công
nghệ .cho n ớc nhận đầu t. Qua chuyển giao công nghệ, làm trình độ công nghệ
của nớc chủ nhà ngày một cao hơn, từ đó nâng cao dần năng lực của nớc chủ nhà.
Đến một mức độ nào đó nớc chủ nhà không những chỉ tiếp thu công nghệ mà còn
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét