Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Lời mở đầu
Tài sản lu động (TSLĐ) là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện đợc quá
trình SXKD của kinh doanh .
Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành một nghiệp vụ sản xuất kinh doanh nào thì
đều có tài sản lu động. Thông thờng những doanh nghiệp có tài sản lu động lớn thì
thờng làm ăn dễ dàng và có sức cạnh tranh hơn so với những doanh nghiệp ít vốn.
Tuy nhiên hiệu quả kinh doanh không phải phụ thuộc vào doanh nghiệp có tài sản lu
động nhiều hay ít mà điều quan trọng là trình độ quản lý và sử dụng tài sản lu động
của doanh nghiệp nh thế nào. Một doanh nghiệp với số vốn lu động không nhiều nh-
ng biết cách quản lý và phát huy tốt đạt hiệu quả của từng đồng vốn thì vẫn có kết
quả cao. Ngợc lại với doanh nghiệp có số vốn dồi dào nhng quản lý vốn không hiệu
quả và sử dụng vốn không kế hoạch thì hiệu quả đem lại cha chắc nh mong muốn.
Khi nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng đối với cơ chế hoạch toán kinh doanh
và tự chủ về tài chính hầu hết các doanh nghiệp gặp tình trạng chung là thiếu vốn,
đặc biệt tài sản lu động (vốn lu động) hạn hẹp, mặt khác Nhà nớc do bao cấp trong
một thời gian dài nên khi chuyển sang cơ chế mới trình độ quản lý vốn lu động của
doanh nghiệp còn hạn chế nhất định. Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn lu động cha cao.
Do đó vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp đặt ra là các doanh nghiệp phải không
ngừng củng cố và hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng vốn lu động nhằm đạt hiệu
quả cao hơn nữa.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của tài sản lu động trong doanh nghiệp cùng
với sự trải nghiệm thực tế khảo sát tại xí nghiệp xây dựng điện I em đã chọn đề tài:
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
5
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản l u động tại Xí nghiệp khảo sát thiết kế xây
dựng điện I làm đề tài thực tập của mình.
Nội dung báo cáo tại xí nghiệp gồm 3 chơng:
Chơng I: Các vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản lu động của doanh
nghiệp
Chơng II: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lu động tại Xí nghiệp khảo
sát thiết kế xây dựng điện I.
Chơng III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động tại Xí nghiệp
khảo sát thiết kế xây dựng điện I.
Trong quá trình thực tập tại xí nghiệp đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh
chị trong phòng kế toán tài vị cùng với sự cố gắng của bản thân em đã rất cố gắng
học hỏi tìm hiểu về công tác tài chính tại đơn vị, nhng bài viết của em chắc còn
nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô hớng dẫn và các cô
chú trong phòng kế toán tài vụ của Xí nghiệp để bài viết của em đợc hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
6
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Chơng I
Các vấn đề cơ bản về hiệu quả sử tài sản lu động
của doanh nghiệp.
1.1 Tài sản lu động của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tài sản lu động cuả doanh nghiệp.
- Tài sản lu động (TSLĐ) là tài sản ngắn hạn và thờng xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh. Tài sản lu động bao gồm: tiền mặt, các khoản phải thu,
dự trữ hàng tồn kho và tài sản lu động khác.
- Đặc điểm nổi bật của của TSLĐ là không ngừng tuần hoàn và chu chuyển giá
trị qua các khâu của quá trình SXKD. Trong chu kỳ luân chuyển của mình, TSLĐ th-
ờng xuyên đổi từ hình thái vật chất này sang hình thái vật chất khác.
1.1.2. Phân loại TSLĐ.
Để lập kế hoạch nâng cao quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động
ngời ta tiến hành phân loại vốn lu động, có nhiều cách phân loại tuỳ theo các căn cứ
khác nhau :
1.1.2.1. Căn cứ vào nguồn hình thành:
Vốn lu động đợc chia thành 3 loại:
- Vốn lu động tự có là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nh:
vốn do ngân sách nhà nớc cấp ,vốn cổ phần do cổ đông đóng góp, vốn tự hình thành,
vốn chủ sở hữu
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
7
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Nợ tích luỹ ngắn hạn (vốn lu động coi nh tự có) là vốn tuy không thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp, nhng do chế độ thanh toán, doanh nghiệp có thể và đợc
phép sử dụng hợp pháp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình (tiền lơng,
BHXH cha đến kỳ trả, nợ thuế, tiền điện nớc cha đến hạn thanh toán, các khoản phí
tổn tính trớc).
Vốn lu động đi vay: Vay Ngân hàng Thơng Mại và các tổ chức tín dụng khác;
vay các tổ chức kinh tế, các tổ chức XH và các cá nhân khác.
Theo cách phân chia này doanh nghiệp sẽ thấy đợc cơ cấu nguồn tài chính cho
nhu cầu vốn lu động trong sản xuất kinh doanh của mình.
1.1.2.2. Căn cứ vào biện pháp quản lý :
Có hai loại vốn lu động:
- Vốn lu động định mức: gồm vốn lu động trong sản xuất, vốn thành phẩm,
cần tiến hành định mức kế hoạch để có cơ sở quản lý vốn, đảm bảo bố trí hợp lý vốn
lu động trong từng giai đoạn sản xuất kinh doanh, tạo cơ sở xác định nhu cầu vốn
trong năm kế hoạch.
- Vốn lu động không định mức: Là số vốn lu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh nhng có căn cứ tính toán định mức và cũng không cần thiết để định
mức, chủ yếu dùng vào việc thanh toán (nợ quá hạn, nợ khó đòi, các loại tiền phạt,
tiền bồi thờng , ch a thu đợc).
1.1.2.3. Căn cứ vào các giai đoạn luân chuyển của vốn lu động: gồm
- Vốn trong dự trữ sản xuất.
- Vốn trong sản xuất.
- Vốn trong thanh toán.
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
8
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
1.1.3. Kết cấu tài sản lu động.
1.1.3.1 Tiền
Bao gồm: Tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển. ở các nớc
có thị trờng chứng khoán phát triển thì các chứng khoán ngắn hạn cũng đợc xếp vào
mục này. Vốn bằng tiền đợc sử dụng để trả lơng cho công nhân, mua sắm nguyên vật
liệu, mua tài sản cố định trả tiền thuê, trả nợ,
1.1.3.2. Các khoản phải thu:
Khi một doanh nghiệp bán hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng thì hoặc
doanh nghiệp sẽ đợc thanh toán tức thì bằng tiền hoặc sẽ đợc thanh toán sau một thời
gian nhất định. Chính những khoản thanh toán chậm đã hình thành các khoản phải
thu khách hàng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp hay nói cách khác đó chính
là các khoản tính dụng mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng của mình.
1.1.3.3. Hàng tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh
thì việc tồn tại vật t hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bớc đệm cần thiết cho quá
trình hoạt động bình thờng của doang nghiệp. Hàng hoá tồn kho có ba loại: Nguyên
vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành
phẩm.
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhng nó có vai trò rất
lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thờng. Do vậy, doanh nghiệp
phải thờng xuyên dự trữ một lợng lớn nguyên vật liệu, hình thành nên khoản mục vốn
dự trữ. Vốn dự trữ chính là biểu hiện bằng tiền của nguyên vật liệu chính, nguyên vật
liệu phụ, nhiên liệu, bao bì, vật liệu bao bì. Bộ phận này chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số vốn lu động.
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
9
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Khi tiến hành sản xuất xong hầu nh các doanh nghiệp cha thể tiêu thụ hết ngay
các sản phẩm của mình đợc, phần thì do độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ,
phần thì phải có đủ lô hàng mới xuất đi tiêu thụ đợc Do vậy doanh nghịêp cũng
luôn phải duy trì một số lợng vốn lu động dới dạng vốn sản xuất và vốn thành phẩm.
Đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ sản phẩm đang chế tạo và nửa thành phẩm, phí
tổn chờ phân bổ và vốn thành phẩm nhập kho.
1.1.3.4. Tài sản lu động khác
Đợc biểu hiện bằng tiền của các khoản tạm ứng, chi phí trả trớc, chi phí chờ
kết chuyển Đây là những khoản mục chi phí cần thiết phục vụ cho những nhu cầu
thiết yếu cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2 Hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Hiệu quả sử dụng tài sản lu động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ,
năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiêp vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí.
Hiệu quả sử dụng tài sản lu động đợc biểu hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh với số vốn lu động đầu t cho hoạt động của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Hiệu quả sử dụng TSLĐ
=
Kết quả SXKD
VLD
Kết quả thu đợc từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc thể
hiện bằng doanh thu đạt đợc hay lợi nhuận trong kỳ, còn vốn lu động là số vốn đợc
tính bình quân trong kỳ.
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
10
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
Hiệu quả sử dụng TSLĐ có quan hệ đến hiệu quả tất cả các yếu tố cấu thành nên
TSLĐ, nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt đợc hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố của
TSLĐ một cách hợp lý nhất.
Quan điểm về hiệu quả sử dụng TSLĐ trong sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp đợc thể hiện tập trung chủ yếu ở các mặt sau:
- Khả năng sinh lời và khả năng sản xuất của TSLĐ phải cao và không ngừng tăng
so với ngành và giữa thời kỳ. Nghĩa là phải đảm bảo một đồng vốn lu động có thể đem
lại lợi nhuận tối đa cho phép để không những bảo toàn mà còn phát triển vốn.
- Khả năng tiết kiệm TSLĐ cao và càng tăng: sử dụng TSLĐ tiết kiệm cũng là
một chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng TSLĐ. Nó giúp doanh nghiệp không phải huy
động thêm vốn lu động, giảm chi phí tăng lợi nhuận mà vẫn đáp ứng nhu cầu vốn cho
sản xuất.
- Tốc độ luân chuyển vốn cao: Giúp doanh nghiệp đẩy nhanh khả năng thu hồi
vốn, tiếp tục tái đầu t cho chu kỳ sản xuất tiếp theo, nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh
doanh có khả năng thu hồi.
- Xây dựng đợc một cơ cấu tối u là tiềm lực vững chắc cho doanh nghiệp.
Mặt khác, nếu xét theo quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội thì hiệu quả trong các
ngành kinh tế nói chung và hiệu quả sử dụng TSLĐ đợc thể hiện ở hai mặt: hiệu quả
trực tiếp và hiệu quả gián tiếp. Hiệu quả trực tiếp là mang lại lợi ích trực tiếp cho ng-
ời kinh doanh. Hiệu quả gián tiếp là xét trên phạm vi chung của nền kinh tế hoặc một
vùng kinh tế, lãnh thổ. Vì vậy, một yêu cầu trong sử dụng vốn lu động là phải gắn kết
hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp, tức là phải góp phần tăng trởng kinh tế xã
hội, tăng tổng sản phẩm kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân
viên.
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
11
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSLĐ
Bởi xét theo góc độ tài sản vốn lu động chính là biểu hiện bằng tiền của tài sản
lu động, nên chúng ta có thể dùng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu
động để phân tích.
Hiệu quả sử dụng vốn lu động là một phạm trù rộng bao gồm nhiều mặt tác
động. Bản thân yếu tố này lại bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác. Bởi vậy để đánh
giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng
vốn lu động nói riêng thì doanh nghiệp phải dựa trên nguồn thông tin từ các báo cáo
tài chính và dùng phơng pháp tỷ lệ và phân tích. Dựa trên nền tảng căn bản đó, các
nhà kinh tế xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lợng sử dụng vốn lu động
của các nhà doanh nghiệp. Hệ thống chỉ tiêu phải đáp ứng đợc các yêu cầu sau:
- Các chỉ tiêu phải đánh giá, phản ánh đợc hiệu quả kinh doanh của đơn vị trên
phơng diện tổng quát cũng nh riêng biệt từng yếu tố tham gia hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính toàn diện, điều này thể hiện ở chỗ chỉ
tiêu phải phản ánh, biểu hiện các yếu tố, các mặt hoạt động của sản xuất
kinh doanh.
- Các chỉ tiêu đánh giá phải có sự liên hệ và so sánh tính toán cụ thể thống nhất.
- Các chỉ tiêu đánh giá có phạm vi áp dụng nhất định cho từng mục tiêu cụ thể.
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và khả năng sản xuất của vốn lu động,
trong số các chỉ tiêu có chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn lu động của
doanh nghiệp nhng cũng có chỉ tiêu tác động gián tiếp đến hoạt động của doanh
nghiệp. Thông thờng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động ngời ta sử dụng các
chỉ tiêu sau:
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
12
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
1.2.2.1. Tốc độ luân chuyển vốn lu động:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lu động vận động thờng xuyên,
không ngừng qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự trữ - sản xuất - tiêu
thụ). Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn, tăng
doanh thu, lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Tốc độ
luân chuyển vốn lu dộng đợc đặc trng bởi hai chỉ tiêu:
- Hệ số luân chuyển vốn lu động (vòng quay vốn lu động):
Doanh thu thuần trong kỳ
Hệ số luân chuyển VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết vốn lu động luân chuyển đợc bao nhiêu vòng trong kỳ.
Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ vốn lu động luân chuyển với tốc độ cao và càng có
lợi cho kết quả sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, vòng quay vốn lu động tăng thì
hiệu quả và hiệu suất sử dụng vốn lu động tăng và ngợc lại.
Độ dài bình quân của một vòng quay vốn lu động (ngày):
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lu động thực hiện đ-
ợc một lần luân chuyển trong kỳ.
Số ngày của kỳ phân tích
Thời gian của một vòng luân chuyển =
Số vòng quay VLĐ
Thời gian của một kỳ phân tích theo quy ớc: một tháng có 30 ngày, một quý có
90 ngày, một năm có 360 ngày. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn lu
động ngày càng cao. Về mặt bản chất, chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của trình
độ kinh doanh, của công tác quản lý, kế hoạch hoá và tình hình tài chính doanh
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
13
Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên đề thực tập
nghiệp. Vòng quay vốn lớn trong điều kiện không có sự gia tăng đột biến về vốn
chứng tỏ hàng hoá mà doanh nghiệp sản xuất ra có sự tiêu thụ mạnh, doanh thu cao
dẫn đến phần lợi nhuận tơng ứng cũng tăng mạnh. Nếu không hoàn thành đợc một kỳ
luân chuyển nghĩa là vốn lu động còn ứ đọng ở một khâu nào đó, cần tìm biện pháp
khai thông kịp thời.
- Mức đảm nhiệm vốn lu động:
VLĐ bình quân trong kỳ
Mức đảm nhiệm V LĐ =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để thu đợc mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp cần sử
dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị vốn lu động. Chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả sử
dụng vốn lu động càng cao, số vốn tiết kiệm càng đợc nhiều.
- Mức tiết kiệm vốn lu động:
Mức tiết kiệm vốn lu động có đợc là do sự thay đổi tốc độ luân chuyển vốn lu
động. Phơng pháp xác định tiết kiệm vốn lu động nh sau:
D
1
V
tk
(+/-) = (T
1
T
0
)
N
Trong đó:
V
tk
: Là mức tiết kiệm (+) hay lãng phí(-) vốn lu động.
D
1
:
Doanh thu kỳ này
T
1
: Thời gian luân chuyển vốn lu động kỳ nay
SVTH: Ngô Thế Long GVHD: PGS. Trần Đăng Khâm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét