Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Chiến lược và Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu xếp vốn tại cty TC dầu khí

như hiện nay. Như vậy, UBND các cấp không có lí do gì để thực hiện vai trò là
người chủ sở hữu về vốn và tài sản của DNNN. Còn các bộ chủ quản, chức năng
của nó là quản lí về mặt kinh tế và kĩ thuật, không có chức năng quản lí vốn. Rõ
ràng, phải có một lời giải đáp khác cho vấn đề này. Để tham khảo, có thể lấy kinh
nghiệm của các nước trên thế giới. ở Pháp, Malayxia và nhiều nước khác, người
thực hiện quyền sở hữu vốn và tài sản của Nhà nước tại các DNNN là Bộ trưởng
Bộ Tài chính do vậy, ở các DNNN, ngoài đại diện của toà án, còn có người kiểm tra
của Nhà nước do Bộ Tài chính cử đến. Việc huy động thêm vốn của DNNN trên thị
trường vốn quốc tế cũng phải dược phép của Bộ Tài chính ( Cục kho bạc Nhà
nước ). ở ý, Tây Ban Nha và một số nước khác, thì quyền sở hữu Nhà nước về vốn
và tài sản ở DNNN cũng do Bộ Tài chính thực hiện nhưng thông qua một tổ chức
trung gian là các công ty Tài chính.
Với những kinh nghiệm trên đây, có thể kết luận rằng, giải pháp đúng đắn và
hợp lý nhất là giao cho Bộ tài chính thực hiện quyền sở hữu tại các DNNN. Lý do
có tính thuyết phục nhất ở đây là chính Bộ tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm
trong tất cả các khâu về hoạt động tài chính của doanh nghiệp từ việc cấp vốn, trợ
cấp và tài trợ tới khâu quản lý vốn đối với tất cả các DNNN. Bên cạnh đó, mọi
nghĩa vụ về mặt tài chính của doanh nghiệp đói với Nhà nước cũng được thực hiện
qua Bộ tài chính( thông qua hệ thống thuế, hệ thống kho bạc Nhà nước và một số cơ
quan khác trực thuộc Bộ này). Tất nhiên, để làm được việc này, cần thiết phải có
một cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại Bộ tài chính, cơ quan này có nhiệm
vụ cơ bản là giúp Bộ trưởng Bộ tài chính đảm nhận việc xem xét cấp vốn cho các
DNNN mới thành lập, quản lý vốn về mặt giá trị được bảo toàn, phát triển, xem xét
để tài chợ hoặc cấp phát vốn bổ sung cho doanh nghiệp trong trường hợp cần thiết
và theo luật định.
Vấn đề tiếp theo là quyền sử dụng. Trong vấ đề này, các ý kiến hầu như đều
thống nhất cho rằng người chịu trách nhiệm sử dụng và có quyền bố trí, sử dụng vốn
và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp phải là Giám đốc doanh nghiệp. Giám đốc
có thể do Nhà nước (cơ quan chủ quản cấp trên) bổ nhiệm hoặc thuê quyền hạn và
trách nhiệm của Giám đốc được luật pháp hoá trên cơ sở của luật doanh nghiệp Nhà
nước và các văn bản phấp luật khác có liên quan. Điều chưa rõ ràng ở đây là nội
Trang 5
dung của quyền sử dụng vốn. Trong cơ chế bao cấp, Giám đốc doanh nghiệp chỉ
thực hiện chức năng quản lý và diều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Song
anh ta không có quyền sử dụng vốn. vậy đây cần phân biệt quyền điều hành sản xuất
( bố trí nhân lực, chỉ đạo thực hiện kế hoạch v.v…) với quyền sử dụng vốn ( bố trí
sử dụng các nguồn vốn) Quyền sử dụng vốn trong giai đoạn này tập trung vào tay
nhà nước. Chỉ từ sau nghị quyết 217- HĐBT, thì quyền sử dụng vốn của Giám đốc
doanh nghiệp mới được xem xét. Tuy nhiên, ở giai đoạn này chưa có sự tách bạch
rach ròi giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Có thế xác định hai quyền này như
sau:
Thứ nhất, quyền sở hữu vốn là quyền của người có vốn tại doanh nghiệp. Nội
dụng của quyền này là quyết định mặt hàng sản xuất và phương hướng sản xuất
cũng như các chỉ tiêu kế hoạch về doanh lợi do sử dụng vốn mang lại. Đồng thời
quyền sở hữu vốn cũng cho phép tham dự và quyết định phân phối thu nhập, trong
đó có thu nhập mà người sở hữu được hưởng từ nguồn vốn của mình.
Thứ hai, là quyền sử dụng vốn. Người sử dụng vốn có quyền dùng vốn đó để
hoạt đọng kinh doanh. Anh ta phải chịu sự chi phối của người sở hữu về các vấn đề
thuộc quyền của người sở hữu như vừa nêu trên. Đồng thời, anh ta được hoàn toàn
tư do sử dụng các nguồn vốn và tài sản đối với các vấn đề khác thuộc chức năng
kinh doanh của mình trong khuôn khỏ của pháp luật. Nghĩa vụ của người sử dụng
vốn là phải bảo toàn và phát triển vốn, phải nộp phần lợi nhuận do nguồn vốn mang
lại cho người sở hữu vốn. Thực tế mấy năm gần đây cho thấy hoạt động của các
doanh nghiệp không giống nhau, có nơi giám đốc doanh nghiệp bị tước cả quyền sử
dụng. Có nơi thì ngược lại hoạt động của Giám đốc doanh nghiệp đã xâm phạm cả
vào quyền của người sở hữu vốn. Việc sử lý tình trạng trên đang là một đòi hỏi cấp
thiết của nền kinh tế và đòi hỏi đó phải được thực hiện bằng các văn bản pháp luật
mà trước hết và quan trọng nhất là luật doanh nghiệp Nhà nước.
3. Các loại vốn được giao bao gồm:
a/Vốn cố định.
Tức nguyên giá của toàn bộ tài sản cố định (TSCĐ) hiện có tại doanh nghiệp
trừ đi hao mòn TSCĐ theo giá hiện hành trên sổ sách kế toán tại thời điểm giao vốn
Trang 6
bao gồm TSCĐ đang dùng, chưa dùng cần điều đi và chờ thanh lý,vốn giữ hộ ngân
sách,thuộc nguồn vốn ngân sách cấp và nguồn vốn xí nghiệp tự bổ sung.
b.Vốn lưu động.
Bao gồm vốn giữ hộ ngân sách và chênh lệch giá được bổ sung tăng vốn theo
quy định hiện hành.
c.Các loại vốn khác
Thuộc nguồn vốn ngân sách cấp và nguồn vốn xí nghiệp tự bổ sung chưa tính
vào vốn cố định và vốn lưu động nêu trên bao gồm:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã cấp chưa thành TSCĐ,kể cả vốn đầu tư XDCB
dỡ dang.
Khấu hao cơ bản để lại xí nghiệp của phần TSCĐ thuộc nguồn ngân sách nhà
nước và nguồn vốn xí nghiệp tự bổ sung.
Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất
Lợi nhuận chưa phân phối
Các quỹ dự trữ tài chính,quỹ dự phòng,quỹ rủi ro.
Các loại vốn trích vào giá thành như vốn sữa chữa lớn,chi phí trích trước…

Phạm vi các loại vốn được giao.
Bảng 1
Trang 7
Trang 8
TT Nguồn hình thành Phạm vi
1 Nguồn vốn cố định
-Ngân sách cấp
-Xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
2 Nguồn vốn lưu động
-Ngân sách cấp
-Xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
3 Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
-Ngân sách cấp
-xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
4 Các quỹ xí nghiệp
-Quỹ khuyến khích PTSX
-Quỹ dự trữ tài chính
-Quỹ dự phòng
-Quỹ rủi ro
-Quỹ bảo toàn vốn
Giao cho doanh
nghiệp
5 Lợi nhận chưa phân phối Giao cho doanh
nghiệp
6 Vốn trích vào giá thành
-Nguồn vốn sữa chữa lớn
-Chi phí trích trước
Giao cho doanh
nghiệp
7 Nguồn vốn nhận liên doanh liên kết,nhận cổ phần
-Vốn cố định
-Vốn lưu động
-Vốn đầu tư XDCB
Không giao cho
doanh nghiệp
8 Các quỹ phúc lợi ,khen thưởng Không giao cho
doanh nghiệp
9 Kinh phí chuyên dùng Không giao cho
doanh nghiệp
10 Nguồn vốn tín dụng
-Vay ngắn hạn,dài hạn ngân hàng
-Vay đối tượng khác
Không giao cho
doanh nghiệp
11 Nguồn vốn trong thanh toán
-Các khoản phải trả người bán
-Các khoản người mua ứng trước
Không giao cho
doanh nghiệp
(Nguồn lấy từ tài liệu của công ty)
II . NGUYÊN LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN
VÀ BẢO TOÀN VỐN
1. Sự cần thiết của bảo toàn và phát triển vốn.
a. Khái niệm:
Bảo toàn và phát triển vốn Sản xất kinh doanh dối với các doanh nghiệp quốc
doanh là nội dung cốt lõi của quy chế giao vốn.Giao vốn tạo ra sự chủ động cho
doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn và hoạt động sản xuất kinh doanh,đồng
thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc bảo toàn và phát triển vốn nhà
nước giao.
1.1. Bảo toàn và phát triển vốn được hiểu:
Bảo toàn vốn ở các doanh nghiệp quốc doanh được thực hiện trong quá trình
sử dụng vốn vào mục đích sản xuất-kinh doanh đảm bảo cho các loại tài sản khong
bị hư hỏng trước thời hạn,không bị mất mát hoặc ăn chia vào vốn.Đồng thời người
sử dụng vốn phải thường xuyên duy trì được giá trị đồng vốn củ mình,thể hiện bằng
năng lực sản xuất của TSCĐ, khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự chữ và tài sản
lưu động nói chung,duy trì khả năng thanh toán của xí nghiệp.
1.2. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển vốn:
Trước hết xuất phát từ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,tài chính đối với các
doanh nghiệp quốc doanh.Chuyển sang nền kinh tế thị trường,các doanh nghiệp
quốc doanh hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh,nhà nước không tiếp
tục bao cấp về vốn cho các xí nghiệp như trước đây.Để duy trì và phát triển sản xất
kinh doanh trong các doanh nghiệp phải bảo toàn ,giữ gìn số vốn được nhà nước đầu
tư,tức là kinh doanh ít nhất phải đảm bảo hoà vốn,bù đắp được số vốn bỏ ra để sản
xuất giản đơn.
1.3. Thực tiễn Bảo toàn và phát triển vốn :
Xuất phát từ điều kiện thực tiễn của nền kinh tế còn lạm phát,giá cả biến động
lớn,sức mua đồng tiền Việt Nam biến động nhiều và nhìn chung là suy giảm,nếu
tiếp tục duy trì cơ chế giá thấp như nhiều năm trước đây,thì số vốn sản xuất kinh
Trang 9
doanh của doanh nhiệp thể hiện bằng đồng tiền Việt Nam sẽ bị giảm dần giá trị trên
thực tế,sức mua của vốn bị thu hẹp,hậu quả không tránh khỏi đấy là lãi giả còn lỗ thì
thật,kinh tế quốc doanh ăn vào vốn.
2. Nguyên lý về bảo toàn và phát triển vốn
2.1. Bảo toàn và phát triển vốn cố định.
Trong quá trình sử dụng TSCĐ và sản xuất -kinh doanh ,doanh nghiệp phải
quản lý trặt chẽ,không để bị mất mát TSCĐ ,thực hiện đúng quy chế sử dụng,bảo
dưỡng ,sữa chữa,mua sắm nhằm bảo đảm cho TSCĐ không bị hư hỏng trước thời
hạn ,duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của TSCĐ.
Doanh nghiệp được quyền chủ động đổi mới thay thế TSCĐ ,kể cả những tài
sản chưa hết thời hạn khấu hao theo yêu cầu đổi mới kỷ thuật công nghệ,phát triển
và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.Nhưng việc thay thế TSCĐ này phải được
báo cáo với cơ quan cấp trên.
Số tiền nhượng bán ,thu hồi do thanh lý TSCĐ phải gửi vào ngân hàng đầu tư
và phát triển và chỉ được sử dụng để tái đầu tư TSCĐ.
Các công trình đầu tư XDCB đình thi công thuộc nguồn vốn Ngân Sách Nhà
Nước cấp hoặc vay nợ nhà nước thì xử lý theo quy định riêng đối với từng trường
hợp cụ thể.
Trường hợp các doang nghiệp cần chuyển bán một phần tài sản,vật tư ứ đọng
không cần dùng thuộc diện phải nộp NSNN ,thì phải báo cáo cơ quan tài chính cùng
cơ quan chủ quản xem xét cùng quyết định bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp.
2.2. Nội dung cơ bản của bảo toàn và phát triển vốn cố định
Các doanh nghiệp phải xác định đúng nguyên giá TSCĐ để trên cơ sở đó tính
đúng ,tính đủ khấu hao cơ bản,khấu hao sữa chữa lớn để tạo nguồn thay thế và duy
trì năng lực sản xuất của TSCĐ,bảo toàn vốn cố định.
Hàng năm ,cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ công bố hệ số tính lại giá trị
TSCĐ.
Ngoài việc bảo toàn vốn cố định trên cơ sở hệ số trượt giá,số phải bảo toàn về
vốn cố định còn bao gồm cả số vốn ngân sách cấp thêm hoặc doanh nghiệp bổ sung
trong kỳ.
Trang 10
Vốn cố định phải bảo toàn đến cuối kỳ của doanh nghiệp được xác định theo
công thức :
Số vốn Hệ số Tăng,giảm
Cố định Số vốn Khấu hao điều chỉnh vốn trong
Phải bảo = được giao - cơ bản × giá trị ± kỳ
Toàn đến đầu kỳ trích trong TSCĐ
Cuối kỳ kỳ
Trong công thức trên:
Số vốn được giao đầu kỳ(hoặc số vốn phải bảo toàn đến đầu kỳ) là số vốn cố
định được giao lần đầu (không bao gồm số dư khấu hao cơ bản để lại xí nghiệp)
hoặc số vốn cố định là được điều chỉnh theo các hệ số phải bảo toàn đến đầu kỳ sau.
Khấu hao cơ bản trích trong kỳ chỉ bao gồm khấu hao cơ bản của những
TSCĐ hiện có đến đầu kỳ(không bao gồm khấu hao cơ bản của những TSCĐ tăng
trong kỳ)
Hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ do các cơ quan có thẩm quyền công bố áp dụng
cho nghành kinh tế kỹ thuật và cho từng nguồn hình thành TSCĐ(nhập khẩu ,đầu
tư,mua sắm trong nước)
Đối với vốn cố định tăng,giảm trong kỳ,hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ được
xác định cho từng trường hợp cụ thể trên cơ sở giá cả thực tế của TSCĐ khi
tăng,giảm và thời điểm giảm,tăng vốn trong kỳ.
Căn cứ vào kết quả xác định số vốn phải bảo toàn theo công thức nêu trên,các
doanh nghiệp phải tiến hành điều chỉnh tăng giá trị TSCĐ và vốn cố định theo các
hệ số điều chỉnh tương ứng với từng loại TSCĐ.
Phần chênh lệch thiếu hay số vốn cố định chưa bảo toàn đủ( số vốn cố định đã
bảo toàn được phải nhỏ hơn số vốn cố định phải bảo toàn) Phải được sử lý bằng các
nguồn sau đây:
Trang 11
Nếu vốn cố định không được bảo toàn do giá trị TSCĐ chưa được tính đủ thì
doanh nghiệp phải điều chỉnh tăng giá trị TSCĐ và do đó nguồn trích khấu hao
trong giá thành cũng tăng lên tương ứng.
Trường hợp TSCĐ mất mát,hư hỏng làm giảm vốn do trách nhiệm và sử lý
theo pháp luật.Nếu do các nguyên nhân chủ quan khác thì sử dụng nguồn vốn tự bổ
sung về đầu tư xây dựng cơ bản và quỹ phát triển sản xuất để bù đắp.
Trường hợp tổn thất TSCĐ do các nguyên nhân khách quan như thiên tai,dịch
hoạ,rủi ro trong quá trình sản xuất,kinh doanh.
Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn ,các doanh nghiệp có trách nhiệm phát triển
phát triển vốn cố định trên cơ sở quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi
nhuận để lại xí nghiệp và phần vốn khấu hao cơ bản để lại xí nghiệp để đầu tư
XDCB cho xí nghiệp.
2.3. Chế độ bảo toàn và phát triển vốn lưu động
Bảo toàn vốn lưu động vè mặt già trị ,thực chất là giử được giá trị thực tế hay
sức mua của vốn,thể hịên khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu
động định mức nói chung,duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Trong quá
trình sản suất kinh doanh các doanh nghiệp phải thường xuyên thực hiện và hạch
toán đúng giá trị thực tế của vật tư ,hàng hoá theo mức diễn biến tăng giảm giá cả
trên thị trường nhằm tính đúng,tính đủ chi phí vật tư vào giá thành sản phẩm,giá vốn
hàng hoá và phí lưu thông để thực hiện bảo toàn vốn lưu động.
2.3.1. Nội dung cơ bản của chế độ bảo toàn và phát triển vốn lưu động:
Các doanh nghiệp phải tự bảo toàn vốn lưu động ngay trong quá trình sản xuất
kinh doanh trên cơ sở mức tăng ,giảm giá tài sản lưu động thực tế tồn kho của doanh
nghiệp ở các thời điểm có thay đổi về giá.
Định kỳ tháng,quý ,năm các doanh nghiệp phải xác định các khoản chênh lệch
giá tài sản lưu động thực tế tồn kho ở doanh nghiệp bao gồm các khâu:Vật tư dự
trữ,bán thành phẩm,sản phẩm dỡ dang và thành phẩm để bổ sung vốn lưu động.
Tổng số chênh lệch giá(sau khi đã bù trừ giữa các khoản chênh lệch tăng và
giảm) được hạch toán bổ sung các nguồn vốn lưu động ngân sách cấp và doanh
nghiệp tự bổ sung.Việc phân định các khoản chênh lệch giá để bổ sung các nguồn
vốn lưu động ngân sách cấp và xí nghiệp tự bổ sung vào doanh nghiệp được căn cứ
Trang 12
vào tỷ trọng của từng nguồn trong tổng số vốn lưu động nhà nước giao cho doanh
nghiệp.
Số vốn lưu động sau khi được điều chỉnh giá tài sản lưuđộng thực tế tồn và
nghi tăng nguồn vốn lưu động ở thời điểm cuối nămlà số vốn thực tế đă bảo toàn
được của doanh nghiệp.
Cơ quan quản lý cấp trên doanh nghiệp và cơ quan tài chỉnh phải xác định hệ
số bảo toàn vốn lưu động hàng năm cho từng nghành , từng doanh nghiệp.Hệ số
trượt giá bình quân của vốn lưu động được tính phù hợp với đặc điểm cơ cấu tài sản
lưu động từng nghành,từng doanh nghiệp trên cơ sở mức tăng giảm giá thực tế cuối
năm so với đầu năm của một số vật tư chủ yếu tính theo cơ cấu kế hoạch của từng
doanh nghiệp.
Số phải bảo toàn hàng năm về vốn lưu động của doanh nghiệp được tính theo
công thức sau:
Số vốn lưu động Số vốn đã được Hệ số trượt giá vốn
Phải bảo toàn = giao(hoặc phải × lưu động của doanh
đến cuối năm bảo toàn hàng nghiệp trong năm
báo cáo năm )
Trong công thức trên:
Số vốn đã được giao là số vốn lưu động giao lần đầu cho doanh nghiệp đã
được xác định trong biên bản giao nhận vón; số vốn phải bảo toàn đến đầu năm là
số vốn được giao nhận đã điều chỉnh theo hệ số bảo toàn vốn đén đầu năm sau.
Hệ số trượt giá vốn lưu động của doang nghiệp trong năm được xác định theo
nguyên tắc đã nêu,do cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính xác định cho doanh
nghiệp.
Ngoài hệ số trượt giá,số phải bảo toàn về vốn lưu động của doanh nghiệp còn
bao gồm cả số vốn ngân sách cấp thêm hoặc coi như ngân sách cấp,hoặc doanh
nghiệp tự bổ sung trong năm.
Trang 13
Phần chênh lệch thiếu hay chưa bảo toàn đủ vốn lưu động đã bảo toàn được số
vốn thấp hơn số vốn lưu động phải bảo toàn phải đựơc sử lý bằng các nguồn bù đắp
sau đây:
Trường hợp không bảo toàn được vốn lưu động do không có vật tư dự trữ và
do đó không có phần chênh lệch giá vào các thời điểm tăng giá thì doanh nghiệp có
trách nhiệm tự bổ sung bằng nguồn quỹ khuyến khích phát triển sản suất của mình.
Nếu quỹ phát triển sản xuất không đủ nguồn thì cơ quan tài chính cùng với cơ
quan quản lý cấp trên xem xét cho trích thêm vào giá thành khoản còn thiếu đó để
đảm bảo mức vốn phải bảo toàn.Khoản trích thêm này đựoc tính trong giá thành để
xác định lợi tức chịu thuế.
Trường hợp mất mát ,hư hỏng vật tư làm giảm vốn lưu động do trách nhiệm cá
nhân,do các nguyên nhân chủ quan khác cũng như do các nguyên nhân khách quan
thì doanh nghiệp phải sử lý như đối với bảo toàn vốn cố định.
Trường hợp ngược lại,do doanh ghiệp có nhiều vật tư dự trữ vào các thời điểm
tăng giá,có thể số vốn lưu động thực tế bảo toàn được cao hơn số vốn phải bảo toàn
thì doanh nghiệp không phải nộp tiền sử dụng vốn đối với số vốn lưu động ngân
sách cấp dã bảo toàn cao hơn.
Ngoài việc bảo toàn vốn lưu động theo hệ số trượt giá các doanh nghiệp nhà
nước phải có trách nhiệm phát triển vốn từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất
trích từ lợi nhuận để lại.
2.3.2. Trách nhiệm thực hiện chế độ bảo toàn vốn.
Giám đốc và kế toán trưởng doanh nghiệp, Hội đồng quản trị doanh nghiệp
chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhà nước về việc lập báo cáo kịp thời quyết toán tài
chính theo định kỳ, trong đố xác định kết quả sản xuất kinh doanh và việc thực hiện
chế độ bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.
Mọi tổn thất, hao hụt vốn và không bảo toàn được vốn phát sinh trong nhiệm
kỳ giám đốc nào thì giám đốc đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật cho đến khi
xư lý xong.
Bộ tài chính cùng với bộ chủ quản, trên cơ sở tham khảo ý kiến của Uỷ ban vật
giá Nhà nước và Tổng cục thống kê, xác định và công bố hệ số điều chỉnh giá trị
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét