Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Công văn 4227/BKH-TH về khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành

Kết quả cho thấy trong 6 tháng đầu năm thị trường tiền tệ và hoạt động kinh doanh của các NHTM
có xu hướng ổn định và chuyển biến tích cực: Tổng phương tiện thanh toán ước tăng 9,6%, huy
động vốn ước tăng 10,82%, tín dụng tăng 10,52% so với cuối năm 2009. Thị trường tiền tệ tương
đối ổn định, hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản hoạt động an toàn. Thị trường ngoại hối
được cải thiện rõ rệt về thanh khoản và tỷ giá ổn định.
(5) Về thị trường chứng khoán
Diễn biến của tình hình kinh tế vĩ mô trong 6 tháng đầu năm 2010, theo hướng ổn định và phục hồi
nhanh, các cân đối lớn ổn định, xuất nhập khẩu tăng cao, nhập siêu có xu hướng giảm, … đã tạo
ra những điều kiện tích cực cho sự ổn định của thị trường chứng khoán. Chỉ số VN-index từ đầu
năm đến nay tuy có dao động nhưng vẫn có xu hướng tăng lên. Đến nay, VNINDEX đang dao
động trong khoảng trên 510 điểm.
(6) Chỉ số giá tiêu dùng
Tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng 1, tháng 2 năm 2010 lên mức cao nhất lần lượt là 1,36% và
1,96%; sau đó ổn định và giảm dần. Chỉ số tăng giá tháng 3 là 0,75%, tháng 4 là 0,14% và tháng 5
tăng 0,27%. Đây là kết quả của việc thực hiện các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm
phát đề ra trong Nghị quyết 18/NQ-CP của Chính phủ, nhất là trong bối cảnh giá cả đầu vào tăng
và thực hiện tăng lương tối thiểu từ ngày 1/5/2010.
So với tháng 12/2009, chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2010 tăng 4,55%; chỉ số giá vàng giảm 2,71%
trong khi chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,58%.
2. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế tiếp tục phục hồi khá nhanh trong 6 tháng đầu năm 2010. Tất cả các ngành, lĩnh vực
đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm trước. Ước tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong 6 tháng đầu năm tăng 6-6,1% (quý I tăng 5,83%; quý II tăng 6,2 – 6,4%), trong đó khu vực
nông, lâm và thủy sản tăng 2,7-3,2%; công nghiệp và xây dựng tăng 6 – 6,7% và dịch vụ tăng 6,8
– 7,2%.
(1) Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao hơn tốc độ tăng trong kế hoạch cả năm
Trên cơ sở thực hiện 5 tháng đầu năm, ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2010, GTSXCN đạt
367.816 tỷ đồng tăng 13,7% so với cùng kỳ (cao hơn kế hoạch đề ra của cả năm là 12%), trong
đó: khu vực ngoài nhà nước tăng 12,7%, chiếm tỷ trọng 35,5% toàn ngành; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 16,9% (trong đó dầu khí giảm 7,3%, các ngành khác tăng 20,5%) chiếm tỷ trọng
41,7% toàn ngành. Ngành công nghiệp khai thác tăng 2,2% so với cùng kỳ 2009 và chiếm tỷ trọng
5,4% so với toàn ngành, công nghiệp chế biến tăng 14,2% chiếm tỷ trọng 89,2%, công nghiệp
điện, gas, nước tăng 18,9% chiếm tỷ trọng 5,4%.
Sáu tháng đầu năm 2010, các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong GTSXCN có mức tăng trưởng
cao hơn kế hoạch toàn ngành gồm: các sản phẩm năng lượng như điện sản xuất tăng 17,4%, khí
đốt nhiên liệu dạng khí tăng 18,1%, khí hóa lỏng tăng 110,8% (do có thêm sản phẩm của nhà máy
lọc dầu Dung Quất); các sản phẩm tiêu dùng như sữa bột tăng 40%, bia tăng 15,6%, thủy hải sản
chế biến tăng 15,1%; điều hòa nhiệt độ tăng 42,2%, tủ lạnh tủ đá tăng 121%, quần áo mặc thường
cho người lớn tăng 15,6%, giày dép, ủng bằng giả da tăng 13,9%; giấy bìa các loại tăng 14,9%, xà
phòng giặt các loại tăng 26%, lốp ôtô máy kéo tăng 43,8%, nước máy thương phẩm tăng 12,8%;
vật liệu xây dựng như kính thủy tinh tăng 31,8%, gạch xây bằng đất nung tăng 16,4%, gạch lát
ceramic tăng 25,5%, xi măng tăng 17,7%; một số sản phẩm cơ khí như ôtô tăng 33,9% (xe chở
khách tăng 37,3%, xe tải tăng 29,2%), xe máy tăng 37,2% so cùng kỳ năm 2009.
(2) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất lương thực tiếp tục phát triển ổn định và đạt năng suất, sản lượng cao hơn năm trước.
Lúa đông xuân: Ở phía Nam đã cơ bản thu hoạch xong lúa đông xuân. Diện tích lúa đã thu hoạch
được trên 1,9 triệu ha; năng suất ước đạt 68,3 tạ/ha, tăng 2,8%; sản lượng ước đạt 12,4 triệu tấn,
tăng 4,2% so với vụ đông xuân 2009.
Diện tích gieo trồng lúa Đông xuân của các tỉnh phía Bắc đạt gần 1,2 triệu ha, bằng 100,2% so với
vụ Đông Xuân 2009. Hiện nay, phần lớn diện tích lúa đông xuân các tỉnh phía Bắc đã thu hoạch
gần xong với năng suất và sản lượng ước đạt cao hơn năm trước.
Lúa hè thu ở các tỉnh phía Nam: Tính đến ngày 15/5/2010 các tỉnh phía Nam đã gieo cấy gần 1,3
triệu ha, bằng 93,5% cùng kỳ năm trước; trong đó vùng đồng bằng Sông Cửu Long gieo cấy 1,1
triệu ha, bằng 93,7%. Tiến độ gieo trồng trà lúa Hè thu chính vụ chậm so với cùng kỳ năm trước
do thiếu nước tưới và tình trạng xâm mặn sâu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Gieo trồng cây màu vụ hè thu: Tính đến 15/5/2010, diện tích gieo trồng ngô cả nước đạt 706,5
nghìn ha, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước; khoai lang đạt 102,3 nghìn ha, tăng 2,9%; lạc đạt 177,8
nghìn ha, giảm 8,6%; rau đậu đạt 508,8 nghìn ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2009.
Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do dịch cúm gia cầm không bị tái phát; sản
lượng thịt gia cầm trong 6 tháng ước tăng trên 20%. Dịch bệnh tai xanh trên lợn xảy ra trên diện
rộng ở các tỉnh miền Bắc (tại các tỉnh có dịch, đàn lợn giảm 1,5% - 5% so 1/4/2010), ảnh hưởng
đến tiêu thụ và gây tâm lý lo ngại cho người chăn nuôi, khả năng sẽ hạn chế chăn nuôi lợn vào
những tháng tới nhất là ở những vùng có dịch bệnh phát sinh.
Lâm nghiệp: Do thời tiết phổ biến khô hạn với nhiệt khá cao nên đã ảnh hưởng đến tiến độ trồng
rừng theo kế hoạch năm 2010. Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, diện tích rừng trồng tập trung
ước đạt hơn 49 nghìn ha, tăng gần 2% so với cùng kỳ năm trước.
Về thủy sản: Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 1,8 triệu tấn,
tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tăng 5,2%; sản
lượng thủy sản khai thác ước tăng 4,8%.
Khó khăn trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở một số nơi vẫn còn tình trạng hạn hán và thiếu
nước tưới, dịch hại cây trồng, dịch bệnh ở gia súc gia cầm chưa được khắc phục triệt để, nạn chặt
phá và cháy rừng có chiều hướng gia tăng.
(3) Khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng cao nhất trong 6 tháng đầu năm:
Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2010 ước tăng
khoảng 8% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó một số dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá như:
thương mại, tài chính, ngân hàng, vận tải biển, du lịch, …
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: ước tổng mức bán lẻ và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 745 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 36,3%
so với cùng kỳ năm 2009.
Hoạt động du lịch: Năm 2010 du lịch Việt Nam đang dần hồi phục sau khi tăng trưởng chậm trong
năm 2009. Trong 6 tháng đầu năm, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt hơn 2,5 triệu lượt
tăng khoảng 35% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách đến từ Trung Quốc tăng 90%, Hàn
quốc tăng 26%, Nhật 15%, Thái Lan 23%, Pháp 10%, Mỹ 4%, Úc 24% …. Thị trường du lịch nội
địa tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ. Số lượt khách du lịch nội địa 6 tháng đầu năm ước đạt 14,8
triệu lượt, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.
Bưu chính, viễn thông: 6 tháng đầu năm 2010, số thuê bao điện thoại trên 100 dân đạt 117,6 máy,
tăng 31,97%, số thuê bao sử dụng Internet ước đạt 2,47 triệu, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2009.
Số thuê bao Internet trên 100 dân ước đạt 25,32%. Tồng doanh thu toàn ngành tăng 7,49% so với
6 tháng đầu năm 2009.
Hoạt động vận tải: 6 tháng đầu năm 2010, khối lượng vận chuyển hành khách toàn ngành ước đạt
1.145 triệu HK, tăng 18,7% và 48.155 triệu HK.Km, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Khối
lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 344,02 triệu tấn và khối lượng luân chuyển hàng hóa đạt
95.761,7 triệu tấn.Km, tốc độ tăng trưởng tương ứng là 9,5% và 13,8%. Doanh thu toàn ngành sau
2 quý đầu năm ước đạt 46.458 tỷ đồng, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2009.
(4) Về phát triển doanh nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm 2010, cả nước có khoảng 36,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và đăng
ký kinh doanh, với tổng số vốn đăng ký ước khoảng 222,2 nghìn tỷ đồng, bằng 86% về số doanh
nghiệp, tăng 13,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2009.
3. Về an sinh xã hội, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác
(1) Về lao động, giải quyết việc làm:
Trong 6 tháng đầu năm 2010, ước tính cả nước giải quyết việc làm cho khoảng 758.500 lao động,
đạt 47,4% kế hoạch năm. Trong đó, tạo việc làm trong nước khoảng 723,5 ngàn người, đạt
47,75% kế hoạch, bằng 111,3% so với cùng kỳ năm 2009; xuất khẩu lao động khoảng 35 ngàn
người, đạt 41,2% kế hoạch, tăng 12,9% so với cùng kỳ.
Dự án vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm tiếp tục đóng vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động. Trên cơ sở bổ sung nguồn Ngân sách Nhà
nước từ Chương trình MTQG Việc làm, trong 6 tháng đầu năm 2010, thông qua Quỹ Quốc gia về
việc làm đã giải quyết việc làm cho khoảng trên 100.000 lao động (đạt khoảng 35%) kế hoạch cả
năm.
(2) Về bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo: Các bộ, ngành chức năng và địa phương đã
chủ động theo dõi tình hình thiên tai, dịch bệnh, có biện pháp xử lý kịp thời để bảo đảm ổn định
sản xuất và đời sống của nhân dân. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã
hội như: hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, thúc đẩy việc
triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo nhanh và
bền vững tại 62 huyện nghèo và các chính sách về xóa đói giảm nghèo đã ban hành.
Trong 6 tháng đầu năm 2010 đã nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các chính sách hỗ
trợ cho giảm nghèo và an sinh xã hội như nâng mức hưởng trợ cấp xã hội cho các đối tượng bảo
trợ xã hội (Nghị định 13/2010/NĐ-CP); tăng mức và mở rộng đối tượng hưởng chính sách miễn,
giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh thuộc diện đối tượng ưu tiên trong xã hội như ở
các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, người dân tộc thiểu số … (Nghị định 49/2010/NĐ-CP),

(3) Về chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Các bộ, ngành và địa phương đã giám sát, phát hiện, cách ly điều trị các trường hợp cúm
A(H1N1), cúm A(H5N1); xây dựng kế hoạch tiếp nhận, triển khai tiêm phòng vắc xin cúm A(H1N1)
do Tổ chức y tế thế giới (WHO) tài trợ cho các đối tượng nguy cơ cao; Bộ Y tế đã có văn bản
“Hướng dẫn xử lý ổ dịch tả”, chỉ đạo các đơn vị về y tế dự phòng tăng cường giám sát, triển khai
khẩn cấp các biện pháp để dập dịch tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn Tả; xây dựng Kế hoạch phun
hóa chất diệt muỗi, tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường, xử lý ổ dịch nhỏ phòng chống sốt xuất
huyết tại các tỉnh trọng điểm.
Mạng lưới khám chữa bệnh từ trung ương đến địa phương đang từng bước đầu tư hoàn thiện.
Nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân về cơ bản được đáp ứng. Chất lượng KCB ở tất cả các
tuyến, từ cơ sở đến trung ương được nâng lên; một số kỹ thuật mới, tiên tiến đã được thực hiện
thành công tại các bệnh viện như ghép thận, thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật tim hở,
thông/nong mạch vành, mổ nội soi, ghép xương, ghép tủy, phẫu thuật mạch máu, thay ổ chỏm
khớp, lọc máu, tán sỏi ngoài cơ thể …. Nhiều kỹ thuật cao đã được thực hiện ngay tại tuyến tỉnh
như: MRI , CT scanner lớp cắt, chụp mạch xóa nền, sinh hóa, huyết học, truyền máu, vi sinh vật; Y
học hạt nhân, laser…
Sản xuất thuốc chữa bệnh ở trong nước đáp ứng trên 45% nhu cầu thuốc chữa bệnh. Công tác
kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, kiểm soát nguy cơ ngộ độc theo quy trình
khép kín từ trang trại đến khâu chế biến ăn uống, tăng cường công tác phối hợp liên ngành đảm
bảo không có dịch, vụ ngộ độc lớn xảy ra.
(4) Về văn hóa, thông tin, thể dục thể thao:
Trong 6 tháng đầu năm 2010, tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền các
sự kiện chính trị xã hội trên toàn quốc. Một số hoạt động nổi bật: hoạt động kỷ niệm 120 năm ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó tập trung tại Hà Nội và Lễ hội Làng Sen tại Nghệ An; Tổ chức
thành công Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất tại Hà Nội; Sơ
kết 3 năm thực hiện cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”.
Các dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy di sản văn hóa được quan tâm chỉ đạo thực hiện; một số di
sản văn hóa phi vật thể đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật
thể tiêu biểu của nhân loại.
Thông tin trong nước và quốc tế tiếp tục tạo được bước đột phá, nâng cao chất lượng, hiệu quả
và tính cạnh tranh về thông tin. Đảm nhận trọng trách ngân hàng tin, dữ kiện, tư liệu thông tin. Các
loại hình thông tin đã đáp ứng và ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ thông tin.
Ngành Thể dục thể thao đã tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn, một số tỉnh, thành
phố tổ chức Đại hội thể thao, tiến tới Đại hội thể thao toàn quốc sẽ được tổ chức vào cuối năm;
tiếp tục Giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia năm 2010; tổ chức các giải thể thao thành tích cao.
(5) Về trật tự an toàn giao thông: Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy
ra 5.699 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4.716 người và làm bị thương 4.157 người. So với cùng
kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 3%, số người chết giảm 21%; số người bị thương
tăng 13%.
Đánh giá chung: Tình hình kinh tế 6 tháng tiếp tục có chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tốc
độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp đạt cao
hơn mức kế hoạch năm 2010; dịch vụ tăng khá, nhất là các hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi, lượng
khách du lịch quốc tế và tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tăng mạnh so với cùng kỳ
năm trước; nông nghiệp phát triển ổn định. Các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Thu ngân
sách đạt cao so với cùng kỳ năm trước; đầu tư phát triển được đẩy mạnh; xuất khẩu tiếp tục được
cải thiện; nhập siêu đang có xu hướng giảm; lạm phát được kiềm chế. An sinh xã hội tiếp tục được
bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; các lĩnh vực văn hóa xã hội được quan
tâm và có sự phát triển tốt.
Tuy nhiên, còn một số khó khăn, thách thức cần được quan tâm xử lý như: Nhập khẩu tăng mạnh
và nhập siêu tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao; thị trường bất động sản có những biểu
hiện bất thường, giá cả nhà đất tăng đột biến; tình trạng thiếu điện ảnh hưởng đến sản xuất và
sinh hoạt của người dân; lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng còn cao; thiên
tai, dịch bệnh đã làm cho đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp khó khăn.
II. DỰ BÁO KHẢ NĂNG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2010 VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
TRONG 6 THÁNG CUỐI NĂM
1. Dự báo khả năng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010.
Trên cơ sở đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và phân tích các yếu tố trong và ngoài nước tác
động đến sự phát triển của nền kinh tế, dự báo tình hình kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm
2010 tiếp tục phát triển ổn định. Tốc độ tăng GDP cao hơn 6 tháng đầu năm; các cân đối về thu
chi ngân sách Nhà nước cơ bản được bảo đảm, xuất khẩu tăng cao, nhập siêu giảm.
Dưới đây là dự báo khả năng hoàn thành kế hoạch trên các chỉ tiêu chủ yếu:
STT Chỉ tiêu Đơn vị Chỉ tiêu
Quốc hội
Ước TH năm
2010
1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) % 6,5 6,5-6,8
2. Tổng kim ngạch xuất khẩu % 6 12-13
3. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội so với GDP
% 41 41,7
4. Chỉ số giá tiêu dùng % < 7 < 8%
5. Số địa phương đạt chuẩn chương trình
phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Tỉnh 63 63
6. Tuyển mới đại học, cao đẳng % 12 7,1
7. Tuyển mới trung cấp chuyên nghiệp % 15 24,1
8. Tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp
nghề
% 17 18,7
9. Mức giảm tỷ lệ sinh ‰ 0,2 0,2
10. Tạo việc làm Triệu người 1,6 1,6
Trong đó: lao động đưa đi làm việc ở nước
ngoài
Vạn người 8,5 8
11. Tỷ lệ hộ nghèo % < 10 9,5
12. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng % < 18 < 18
13. Số giường bệnh trên 1 vạn dân Giường bệnh 27,5 27,5
14. Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người m2 13,5 13,5
15. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng
nước sạch, hợp vệ sinh
% 83 83
16. Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước
sạch
% 84 84
17. Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng được xử lý
% 70 70
18. Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom % 85 85
19. Tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý % 80 80
20. Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang
hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập
trung đạt tiêu chuẩn môi trường
% 45 45
21. Tỷ lệ che phủ rừng % 40 40
Như vậy, trong tổng số 21 chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch 2010, có 19 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch.
Hai chỉ tiêu không đạt kế hoạch là tốc độ tăng giá chỉ tiêu dùng và tốc độ tăng tuyển mới đại học,
cao đẳng.
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thành kế hoạch trong các tháng cuối năm
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, đi đôi với
việc tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp
2
trong Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/01/2010 và
Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ.
Trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp chính sách chủ yếu sau đây:
(1) Tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát
2
(1) Phục hồi kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng tăng trưởng; (2) Diễu hành
chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, thận trọng để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát nhập
siêu và ngăn chặn lạm phát cao trở lại; (3) Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo, khoa học công nghệ; (4) Tạo chuyển biến trong công tác chăm sóc sức khỏe, phát triển
văn hóa, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; (5) Bảo đảm an sinh xã hội và phúc
lợi xã hội; (6) Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến
đổi khí hậu; (7) Mở rộng quan hệ quốc tế, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh
tế quốc tế, tăng cường quốc phòng an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; (8) Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành
tiết kiện, chống lãng phí.
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng để duy trì tốc độ tăng tín dụng và tổng
phương tiện thanh toán ở mức hợp lý, phù hợp với mục tiêu phát triển và yêu cầu kiềm chế lạm
phát. Chủ động áp dụng các biện pháp kiểm soát hoạt động tín dụng để nâng cao hiệu quả và chất
lượng hoạt động tín dụng, năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng
Tổ chức tốt việc theo dõi diễn biến cung – cầu thị trường trong và ngoài nước để kịp thời áp dụng
các giải pháp điều tiết cung – cầu và bình ổn thị trường. Rà soát, đánh giá tình hình sản xuất và
tiêu thụ các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống, trước hết là các mặt hàng thiết yếu như gạo,
đường, thuốc chữa bệnh, thức ăn chăn nuôi, phân bón, xi măng, thép …, không để xảy ra tình
trạng thiếu hàng, sốt giá.
Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ thuế để bình ổn giá xăng dầu, không để giá xăng tăng
liên tục gây tác động tiêu cực đến tâm lý và tiêu dùng. Giữ ổn định giá điện bán cho các hộ sản
xuất, tiêu dùng và giá than bán cho điện trong năm 2010. Kiểm soát các chi phí kinh doanh, giá
thành các loại sản phẩm thuộc diện bình ổn giá, bao gồm xăng dầu, điện, than, sữa, thức ăn chăn
nuôi. Rà soát cơ chế kiểm soát giá xăng dầu theo Nghị định 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 để
đảm bảo việc kinh doanh xăng dầu hoạt động theo nguyên tắc thị trường nhưng không ảnh hưởng
tiêu cực đến mục tiêu bình ổn thị trường giá cả.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về lưu thông hàng hóa để ngăn chặn
kịp thời và hiệu quả đối với các hiện tượng đầu cơ nâng giá và gian lận thương mại; đồng thời chủ
động chuẩn bị sẵn sàng các phương án điều tiết thị trường trong trường hợp cần thiết đối với
những mặt hàng thiết yếu nói trên để đảm bảo và duy trì bình ổn thị trường và giá cả. Xử lý
nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định về quản lý giá.
(2) Thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán
Tổ chức triển khai thực hiện tốt các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu. Xây
dựng thị trường hoặc nhóm thị trường trọng điểm, tăng cường công tác xúc tiến thương mại tìm
đầu ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời có các cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến
khích các doanh nghiệp tăng lượng hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường này, góp phần thực
hiện mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2010.
Thực hiện các biện pháp, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp
hàng tiêu dùng để tạo ra nhiều hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu.
Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hải quan để rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi
phí đối với hàng hóa xuất khẩu. Sử dụng linh hoạt các công cụ thuế, phí và lệ phí đối với hàng
xuất, nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, trước hết đối với những mặt hàng
trong nước sản xuất được hoặc không khuyến khích nhập khẩu.
Điều hành thị trường ngoại hối và chính sách tỷ giá linh hoạt trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số
giá tiêu dùng, cán cân thương mại và các kênh đầu tư khác theo hướng khuyến khích xuất khẩu,
hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán. Tăng cường theo dõi, phân tích, đánh giá và dự
báo luồng vốn đầu tư gián tiếp để tiếp tục thu hút vốn đầu tư gián tiếp và chủ động có biện pháp
thích hợp kiểm soát được các luồng vốn vào – ra.
(3) Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội
Phải trên cơ sở phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả đầu tư kinh doanh mà tạo ra nguồn lực
và thu hút tối đa các nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển nền kinh tế.
Năm 2010 phải phấn đấu tăng thu NSNN, vượt dự toán NSNN đã được Quốc hội giao để đảm bảo
các nhu cầu chi cần thiết và giảm bội chi NSNN. Đồng thời, nghiên cứu việc phát hành công trái để
huy động vốn từ các tầng lớp dân cư phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hướng
dẫn để triển khai phát hành các loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp theo quy định
tại Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 19/05/2006 nhằm huy động thêm vốn phục vụ mục tiêu đầu tư
phát triển.
Tăng cường quản lý, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả chi ngân sách nhà nước. Rà soát, hướng dẫn
các bộ, ngành và địa phương thực hiện triệt để tiết kiệm, cắt giảm các khoản chi thường xuyên
chưa thật sự cần thiết, như mua sắm tài sản, lễ hội, gặp mặt, hội nghị thường niên …
Kịp thời tháo gỡ các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo
kế hoạch. Đối với các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa mà Nhà nước không cần nắm giữ
cổ phần chi phối, khẩn trương thoái vốn để có nguồn thực hiện các mục đích sử dụng theo quy
định.
Đi đôi với việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, cần phải rà soát lại
toàn bộ cơ chế chính sách và các quy định pháp luật đối với đầu tư và sử dụng vốn của tất cả các
thành phần kinh tế; trước hết phải tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính cho đầu tư kinh
doanh của doanh nghiệp.
(4) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cơ chế chính sách đầu tư phát triển, tăng cường kiểm tra,
kiểm soát đầu tư phát triển trong toàn bộ nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư;
đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư, trước hết là vốn đầu tư thuộc NSNN, vốn Trái
phiếu Chính phủ, vốn ODA, tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoàn chỉnh dự án Luật Đầu tư công để trình Quốc hội. Sớm ban hành Quyết định thí điểm cơ chế
đầu tư theo hình thức đối tác công tư giữa Nhà nước và tư nhân (PPP) để tăng thêm nguồn vốn
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội. Đồng thời, tiếp tục hoàn chỉnh các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp và các Nghị định về quản lý và sử
dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm tính đồng bộ của các văn bản pháp luật.
Hướng dẫn và đôn đốc các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư phát
triển thuộc nguồn NSNN, trái phiếu Chính phủ năm 2010 theo đúng tinh thần Nghị quyết của Quốc
hội, Chính phủ và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Rà soát, tổng hợp phương án ứng trước kế hoạch năm 2011 cho các dự án quan trọng, cấp bách
cần đẩy nhanh tiến độ để đưa vào sử dụng trong năm 2010 mà ngân sách năm 2011 nhất thiết
phải bố trí vốn để thực hiện.
Kiểm tra tình hình đầu tư các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn NSNN, Trái phiếu Chính phủ,
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước nhằm bảo đảm việc quản lý sử dụng vốn đầu tư có hiệu
quả, theo đúng mục đích, yêu cầu đề ra.
Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển bằng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn
2003 – 2010 và dự kiến kế hoạch đầu tư bằng vốn Trái phiếu Chính phủ cho giai đoạn 2011 –
2015 để trình Chính phủ, Quốc hội xem xét, quyết định.
Tổng kết, đánh giá đầu tư thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010 và dự
kiến cho giai đoạn 2011 – 2015.
Xác định các danh mục đầu tư để kêu gọi, thu hút vốn đầu tư theo các hình thức thích hợp. Đồng
thời, có biện pháp tăng cường huy động vốn theo các phương thức xã hội hóa, hợp tác công – tư
để đáp ứng các nhu cầu đa dạng trong đầu tư phát triển kinh tế.
Duy trì và nâng cao chất lượng giao ban hàng tháng về sản xuất và đầu tư, tháo gỡ khó khăn
vướng mắc để huy động, đẩy nhanh tiến độ giải ngân và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
(5) Bảo đảm ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính
Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Điều chỉnh, bổ sung các cơ
chế, chính sách về huy động vốn, tín dụng, đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, phù hợp với
thông lệ, chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tế của nước ta. Tăng cường kiểm tra, giám sát tình
hình thị trường tiền tệ và thị trường vàng để có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời
Rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đồng thời tăng cường quản lý giám sát thị trường tài chính,
bảo đảm thị trường này hoạt động lành mạnh, trở thành kênh huy động vốn quan trọng của các
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng cường kiểm tra, giám
sát hoạt động của các định chế tài chính phi ngân hàng, tình hình các thị trường tài chính, chứng
khoán, bảo hiểm và thị trường bất động sản.
Tăng cường giám sát, cảnh báo hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, các
quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm … nhằm kịp thời đề xuất các giải pháp điều hành phù hợp, hiệu
quả để bảo đảm ổn định thị trường tài chính.
(6) Thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh
Các cấp, các ngành phải tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu
tư, kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước; tập trung vào việc đơn giản hóa
và xử lý trong tổ chức thực hiện về thủ tục đầu tư, đăng ký kinh doanh, tiếp cận vốn, mặt bằng sản
xuất; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư theo hướng gắn với dự án công trình và nhu cầu đầu tư nằm trong
kế hoạch đã được phê duyệt để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh nhằm khơi dậy, khai thác được các tiềm năng,
thế mạnh về công nghệ và các nguồn lực trong từng lĩnh vực, địa bàn để tạo ra nhiều sản phẩm có
giá trị gia tăng cao, góp phần đẩy nhanh đà phục hồi và đạt mức tăng trưởng cao hơn.
Đảm bảo việc cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư sản
xuất, đảm bảo an sinh xã hội đối với người thu nhập thấp.
Tiếp tục duy trì các chính sách khuyến khích sản xuất trong nước hướng tới xuất khẩu và thay thế
hàng nhập khẩu thông qua việc bảo hộ hợp lý về thuế xuất nhập khẩu, hàng rào kỹ thuật, cho vay
ưu đãi đối với các dự án phù hợp với chủ trương; tiếp tục giữ mức thuế cao đối với việc xuất khẩu
khoáng sản thô chưa qua chế biến để tăng thu ngân sách và khuyến khích các doanh nghiệp đầu
tư dài hạn chế biến sâu khoáng sản.
Tiếp tục triển khai việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để tăng hiệu quả của các doanh
nghiệp này và thu hút thêm nguồn vốn của khu vực dân cư vào việc phát triển của khu vực kinh tế
này.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch hóa các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh,
gia nhập thị trường của doanh nghiệp; tiếp tục hoàn thiện cơ chế một cửa liên thông trong đăng ký
thành lập doanh nghiệp.
Tiếp tục kiện toàn, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan đăng ký kinh doanh. Xây dựng
cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan đầu mối duy nhất thực hiện thủ tục đăng ký thành lập
doanh nghiệp; triển khai chương trình kết nối mạng thông tin giữa các cơ quan đăng ký kinh
doanh, thuế và công an; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp thông tin về doanh nghiệp.
Thúc đẩy phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản, đồng thời triển khai các biện
pháp kỹ thuật kiểm soát chất lượng và an toàn vệ sinh đối với hàng nông, lâm, thủy sản nhập
khẩu.
Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại để thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà
nước “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; thúc đẩy các loại hình hoạt động du lịch;
phát triển và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ gắn với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các
lĩnh vực này.
Tiếp tục xây dựng các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo tinh thần nghị
quyết TW 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chương trình hành động của Chính phủ triển
khai Nghị quyết.
Tiếp tục theo dõi chặt chẽ dịch bệnh, đặc biệt là diễn biến dịch tai xanh. Các bộ, ngành và địa
phương cần chủ động trong công tác phòng chống bão, lũ để giảm thấp nhất các thiệt hại do thiên
tai gây ra. Tăng cường hệ thống cảnh báo, dự báo thiên tai, dịch bệnh, thực hiện tốt chính sách hỗ
trợ cho người dân tại những vùng bị thiên tai. Tập trung chỉ đạo tìm kiếm mở rộng thị trường xuất
khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước.
Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình tài chính và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp nhà nước nhằm phát huy hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ngăn
chặn các tổ chức, cá nhân lợi dụng biến động giá thế giới để nhập, găm giữ hàng, nâng giá bán,
gây mất ổn định thị trường, giá cả.
(7) Tăng cường các chính sách giảm nghèo, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội
Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề, việc làm bằng nhiều
giải pháp đồng bộ, nhân rộng các mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm
nghèo; tổ chức thẩm định, phê duyệt và giải ngân nhanh các dự án vay vốn tạo việc làm, giảm
nghèo, không để tồn đọng vốn, tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới để thu hút lao động. Tổ chức các
đoàn liên ngành giám sát, đánh giá các hoạt động của Chương trình MTQG việc làm. Tiếp tục theo
dõi tình hình lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế. Triển
khai thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện Bảo hiểm thất
nghiệp; theo dõi, cập nhật và kiểm tra tình hình lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; hướng dẫn việc thực hiện chính sách, chế
độ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động, an toàn, bảo hộ lao động; thực hiện đồng bộ
các giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, lành mạnh; kiểm tra, giám sát việc quản lý,
sử dụng lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đã ban hành, chi trả trợ cấp ưu đãi đối với
người có công với cách mạng, đối tượng xã hội, người nghèo; tiếp tục đẩy mạnh các phong trào
đền ơn đáp nghĩa, từ thiện, nhân đạo bằng nhiều hoạt động thiết thực, huy động thêm các nguồn
lực xã hội để góp phần đảm bảo ổn định và từng bước nâng cao mức sống các gia đình chính
sách, người nghèo.
Tăng cường kiểm soát dịch bệnh, nhằm tạo điều kiện để thực hiện được mục tiêu về sức khỏe
nhân dân, giảm nhanh sự khác biệt về chỉ số sức khỏe giữa các vùng, miền (như tỷ suất chết sơ
sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em và sức khỏe bà mẹ). Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động
của các Chương trình MTQG, bảo đảm thực hiện Chương trình đúng định hướng, mục tiêu đề ra
và đạt hiệu quả cao.
Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các chính sách, chương trình, dự án về an sinh xã hội đã ban hành;
đồng thời nghiên cứu và ban hành mới các cơ chế chính sách đáp ứng yêu cầu bảo đảm an sinh
xã hội trong tình hình và điều kiện mới. Tiếp tục thực hiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho
các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, hỗ trợ cho người lao động bị mất việc làm. Tổ chức
thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm,
chuyển đổi ngành nghề, nhất là đối với các hộ nông dân có đất bị thu hồi. Mở rộng phạm vi đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm tư nhân. Đa dạng hóa các loại hình trợ
giúp xã hội và cứu trợ xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước để bảo vệ lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng.
Phần thứ hai.
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011
I. BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1. Tình hình thế giới:
Bước vào thập niên mới, vị thế của các quốc gia có sự thay đổi nhất định. Nhiều hình thức liên kết
kinh tế mới xuất hiện. Bên cạnh các cơ chế G8, G20,… sẽ xuất hiện thêm những cơ chế khác
nhau, trong đó có cơ chế tập hợp các nền kinh tế mới nổi, nhất là nhóm BRIC
3
. Các tập đoàn và
công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và
cục diện phát triển toàn cầu thay đổi nhanh. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp
tác giữa các nước đang trở thành phổ biến với các mặt tích cực, tiêu cực, cơ hội và thách thức
đan xen nhau.
Kinh tế toàn cầu nói chung của từng quốc gia nói riêng sẽ từng bước chuyển đổi cơ cấu, trong đó
các ngành, các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường sẽ được quan tâm hơn.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế lần này còn chỉ ra chiến lược hướng mạnh xuất
khẩu một cách quá mức có thể đưa tới những khó khăn nghiêm trọng một khi thị trường ngoài
nước chao đảo. Do đó, trong thời gian tới có thể sẽ diễn ra xu thế chuyển đổi cơ cấu thị trường
3
Nhóm 4 nước đang trỗi dậy gồm: Brazil, Nga, Trung quốc và Ấn Độ
theo hướng cân bằng hơn giữa thị trường trong nước và ngoài nước, nhất là ở các nền kinh tế có
dung lượng thị trường nội địa lớn.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu vừa qua, các nước đều áp dụng chính
sách bảo hộ mậu dịch có thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình tự do hóa thương mại. Với sự phục hồi
kinh tế, giá cả trên thị trường thế giới sẽ tăng cao trong thời gian tới. Tình hình này đi đôi với tình
tạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng diễn ra ở hầu hết các quốc gia do các gói kích thích kinh tế
khổng lồ được tung ra gần đây có thể sẽ dẫn tới tình trạng khủng hoảng nợ công và lạm phát cao
trên toàn cầu, nếu không có các biện pháp kiểm soát đủ mạnh.
Xu thế hội nhập và mở cửa được dự báo vẫn sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng.
Hệ thống tài chính ngân hàng sẽ dần được cơ cấu lại theo hướng chịu sự quản lý và giám sát bởi
những quy định chặt chẽ hơn và vì vậy bớt sôi động, nhưng cân bằng và an toàn hơn, sự can
thiệp của chính phủ các nước và các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế vào hoạt động của thị
trường tài chính và các định chế trung gian tài chính sẽ được tăng cường mạnh hơn. Sự giám sát
trong khuôn khổ từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu sẽ chặt chẽ hơn. Tuy đồng đô la Mỹ vẫn
tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, song những hình thức dự trữ, tín dụng, thanh toán mới sẽ tác động
đáng kể tới sự giao dịch trên thế giới; vai trò của Mỹ và Tây Âu sẽ dần dần giảm đi, trong khi đó
một số trung tâm tài chính khác sẽ nổi lên.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình
thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như:
tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên… Các nước ASEAN bước vào
thời kỳ hợp tác mới, cùng nhau xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: chính trị - an
ninh; kinh tế; văn hóa - xã hội. Hợp tác ASEAN với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều
sâu.
Nói chung, sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn
phát triển với nhiều cơ hội mới. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và điều chỉnh các thể chế điều
tiết kinh tế - tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học và
công nghệ, sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên; phát huy lợi thế cạnh tranh “động” và sự trỗi
dậy của chủ nghĩa bảo hộ … sẽ mở ra những cơ hội và thách thức mới cho sự phát triển.
2. Tình hình trong nước
Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và năm
đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 và kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015. Năm 2011 cũng là thời gian nước ta vừa bước vào ngưỡng
phát triển nhóm nước có thu nhập trung bình.
Bước vào xây dựng kế hoạch năm 2011, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang có xu hướng
phục hồi khá nhanh trên tất cả các ngành, lĩnh vực; kinh tế vĩ mô tương đối ổn định; môi trường
đầu tư kinh doanh được cải thiện; thị trường trong nước có dấu hiệu khởi sắc; thị trường hàng hóa
đã bước đầu khôi phục lại được đà tăng trưởng; hoạt động thương mại, dịch vụ có nhiều cơ hội
để phát triển thị trường mới, kể cả thị trường trong nước lẫn thị trường ngoài nước.
Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, nhiều cơ chế chính sách phát triển đã được bổ
sung và sửa đổi kịp thời, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế được duy trì. Vị thế và uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Đó là những điều kiện rất quan trọng để tạo
ra xu thế phát triển mới, tạo đà tăng trưởng cao hơn trong năm 2011 và các năm tiếp theo.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi như đã đề cập ở trên, năm 2011, nền kinh tế nước ta cũng
gặp phải một số khó khăn, lãi suất ngân hàng cao, nhập siêu còn khá lớn… Thị trường tài chính
vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư. Suy thoái kinh tế toàn
cầu tuy đã được ngăn chặn, nhưng vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
nước ta trong năm 2011.
II. MỤC TIÊU NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2011
A. Mục tiêu tổng quát

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét