Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch I


5
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh dịch vụ
tiền tệ. NHTM khơng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như những doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho
qúa trình sản xuất, lưu thơng và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng
vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế mở rộng
kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Vai trò quan trọng
của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế được thể hiện qua các chức năng
của nó như tạo phương tiện thanh tốn, trung gian tài chính, trung gian thanh
tốn.
Tạo phương tiện thanh tốn
Tiền- vàng có một chức năng quan trọng là phương tiện thanh tốn. Các
ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh tốn khi phát hành giấy nợ với khách
hàng. Giấy nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành
phương tiện thanh tốn rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu
các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh tốn thay cho tiền kim loại dựa trên
số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấp nợ của
ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thơng và phương tiện
cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền
quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành tiền
giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương. Từ đó
chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra giấy bạc riêng của mình.
Trong điều kiện phát triển thanh tốn qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh tốn, họ có thể chi
trả để có được hàng hóa dịch vụ theo u cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên
tài khoản tiền gửi thanh tốn của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng
để mua hàng hố, dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra
phương tiện thanh tốn. Tồn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện
thanh tốn khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân
hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
tiền vay để chi trả thì tạo nên khoản thu của một khách hàng khác từ đó tạo ra
các khoản vay mới.
Trung gian thanh tốn
Ngân hàng trở thành trung gian thanh tốn lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh tốn giá trị hàng hố
và dịch vụ. Để việc thanh tốn thuận lợi và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra
cho khách hàng nhiều hình thức thanh tốn như thanh tốn bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu cung cấp mạng lưới thanh tốn điện tử, kết nối với các quỹ và
cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh tốn
bù trừ với nhau thơng qua Ngân hàng Trung ương hoặc thơng qua các trung tâm
thanh tốn. Cơng nghệ thanh tốn qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy
mơ sử dụng cơng nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, cơng nghệ thanh tốn
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý sử dụng rộng rãi. Nhiều
hình thức thanh tốn được chuẩn hố góp phần tạo tính thống nhất trong thanh
tốn khơng chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân
hàng trên tồn thế giới. Các trung tâm thanh tốn quốc tế được thiết lập đã làm
tăng hiệu quả của thanh tốn qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm
thanh tốn quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế tồn cầu.
Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: một là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức
là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt q thu nhập và vì thế họ cần bổ sung
vốn; hai là các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện
tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hố, dịch vụ và do vậy họ có tiền
để tiết kiệm. Trung gian tài chính đã tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì
vậy giải quyết được mâu thuẫn tín dụng trực tiếp. Trung gian tài chính đã làm
tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm
phí tổn tín dụng đối với nhà đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư. Cơ chế hoạt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ
thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro.
2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Như chúng ta đã biết, NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ với hoạt động chủ yếu và thường xun là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hồn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện các
nghiệp vụ thanh tốn và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu được lợi nhuận
tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản.
Có thể phân các hoạt động của NHTM thành ba hoạt động cơ bản là:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động sử dụng vốn (cho vay và đầu tư).
- Hoạt động trung gian thanh tốn và các loại hình dịch vụ khác.
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò
quan trọng trong việc quyết định đến sự thành cơng trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
2.1. Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là
đi vay để cho vay. Vì vậy, khác với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh
vực phi tài chính, huy động vốn là một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng
của NHTM.
- Vốn tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài ngun quan trọng nhất của
NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở tài
khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh tốn hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân
hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư.
+ Tiền gửi khơng kỳ hạn (tiền gửi thanh tốn): đây là tiền của doanh
nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh tốn hộ.
Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của cá nhân và doanh nghiệp
đều được ngân hàng thực hiện. Các nhu cầu bằng tiền của khách hàng đều có thể
được nhập vào tiền gửi thanh tốn theo u cầu. Nhìn chung, lãi suất của khoản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
tiền này rất thấp (hoặc bằng khơng), thay vào đó chủ tài khoản có thể được
hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào có sự thoả thuận
giữa ngân hàng và khách hàng về thời hạn rút tiền. Tuy nhiên trên thực tế do q
trình cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các ngân hàng thường cho phép khách hàng
được rút tiền trước thời hạn nhưng khơng được hưởng lãi hoặc hưởng mức lãi
suất khơng kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định nên ngân
hàng có thể sử dụng một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy để
thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng thường đưa ra nhiều kỳ hạn khác nhau
và kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là hình thức huy động truyền thống của
ngân hàng. Các tầng lớp dân cư đều có khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng.
Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm
nhằm mục đích bảo tồn và sinh lời đối với khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu
bảo tồn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng cố gắng
khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách
mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất
cạnh tranh. Sổ tiết kiệm này khơng dùng để thanh tốn tiền hàng và các dịch vụ
song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích nhờ thanh tốn hộ và
một số mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên,
quy mơ nguồn này thường khơng lớn.
- Vốn huy động thơng qua phát hành các giấy tờ có giá
Trong hình thức này ngân hàng chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã
hội bằng việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu để
bổ sung nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Thơng thường đây là khoản vay
khơng có đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn
được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách
này, họ thường phải thơng qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của
Ngân hàng Đầu tư. Khả năng vay mượn này còn phụ thuộc vào trình độ phát
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các cơng cụ nợ dài
hạn của ngân hàng.
- Vốn đi vay của các ngân hàng khác
Nguồn vốn đi vay của ngân hàng khác là nguồn hình thành bởi các mối
quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa tổ chức tín dụng với ngân
hàng trung ương.
+ Vay ngân hàng Trung ương: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ bắt buộc,
NHTM thường vay ngân hàng Trung ương. Hình thức cho vay chủ yếu của ngân
hàng Trung ương là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn.
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: trong q trình kinh doanh bất kỳ doanh
nghiệp nào cũng phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn, và ngược lại cũng phát
sinh tình trạng thiếu vốn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng khơng
tránh khỏi tình trạng đó. Đối với ngân hàng, cũng có lúc ngân hàng huy động
được vốn nhưng lại khơng sử dụng hết, trong khi đó vẫn phải trả lãi tiền gửi.
Ngược lại, có thời kỳ nhu cầu vốn cho vay và đầu tư rất lớn nhưng khả năng
nguồn vốn mà ngân hàng huy động được lại khơng đáp ứng đủ. Trong những
trường hợp này, ngân hàng có thể gửi vốn tạm thời vào ngân hàng khác để lấy
lãi hoặc đi vay vốn để mở rộng kinh doanh và khơi phục khả năng thanh tốn
của ngân hàng.
Như vậy, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các nguồn
vốn trong nền kinh tế, đó là: các khoản tiền gửi; tiền huy động thơng qua phát
hành các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các ngân hàng khác.
2.2. Hoạt động sử dụng vốn (cho vay và đầu tư)
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng
nhất của NHTM và được thể hiện thơng qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như: cho
vay, đầu tư, hoạt động ngân quỹ Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhất
trong sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM.
- Hoạt động cho vay
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng chuyển giao
cho khách hàng một lượng tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trên ngun
tắc có hồn trả cả gốc và lãi. Đây là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho
ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động này cũng chứa đựng mức độ rủi ro cao. Vì vậy,
khi cho vay phải đảm bảo các ngun tắc sau: Vốn vay phải sử dụng đúng mục
đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Phải hồn trả nợ gốc và lãi đúng
hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài
sản; Cho vay phải dựa trên phương án sử vốn vay có hiệu quả.
Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay. Nếu phân loại theo thời hạn thì có:
cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nếu phân loại theo mục đích sử dụng
thì có: cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh. Nếu phân loại theo loại tiền tệ
thì có cho vay bằng nội tệ và cho vay bằng ngoại tệ. Nếu phân loại theo phương
thức cho vay thì có: cho vay từng lần, cho vay hạn mức, cho vay thấu chi, cho
vay theo thẻ tín dụng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
- Hoạt động đầu tư và ngân quỹ
Hoạt động đầu tư của NHTM được thể hiện dưới nhiều hình thức như:
đầu tư mua bán chứng khốn, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh liên
kết Nhờ có những hoạt động đầu tư này mà các NHTM có thể sử dụng và khai
thác tối đa các nguồn vốn đã huy động, đa dạng hố kinh doanh và phân tán rủi
ro, tăng cường thanh khoản cho dự trữ của ngân hàng. Đồng thời, nó cũng mang
lại nguồn thu nhập cho NHTM.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mơ hình tổ
chức NHTM ở mỗi nước. Xu hướng chung trong hoạt động của các NHTM hiện
nay là ngày càng phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân
hàng.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách
hàng, nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và
ngân hàng Trung ương.
Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động khơng mang tính đầu tư, nhưng
lại rất quan trọng đối với các NHTM bởi nó góp phần tăng cường khả năng
thanh tốn và chi trả với khách hàng.
2.3. Hoạt động trung gian thanh tốn và các loại hình dịch vụ khác
Tất cả các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hố, dịch vụ và các hoạt động
khác trong nền kinh tế đều được kết thúc bằng khâu thanh tốn. Việc thanh tốn
có thể được thực hiện trực tiếp bằng tiền hoặc khơng dùng tiền mặt (Thanh tốn
chuyển khoản) thơng qua trung gian ngân hàng.
Thanh tốn khơng dùng tiền mặt là việc thanh tốn được thực hiện bằng
cách trích chuyển tài khoản trong hệ thống ngân hàng hoặc bù trừ cơng nợ mà
khơng sử dụng đến tiền mặt.
Thanh tốn khơng dùng tiền mặt qua trung gian ngân hàng có đặc điểm
sau:
- Thanh tốn khơng dùng tiền mặt sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là bút
tệ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
- Trong thanh tốn khơng dùng tiền mặt, mỗi thanh tốn có ít nhất ba bên
tham gia, đó là: người trả tiền, người nhận tiền và trung gian thanh tốn.
- Khi tiến hành các nghiệp vụ thanh tốn khơng dùng tiền mặt phải sử
dụng các chứng từ thanh tốn riêng, đó là các lệnh thu hoặc lệnh chi do chính
người nhận tiền hay người trả tiền lập ra.
Bên cạnh đó các NHTM cũng cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tài
chính như dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ uỷ thác, mua bán và kinh
doanh chứng khốn Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt
động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng.
II. HOẠT ĐỘNG THANH TỐN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm thanh tốn quốc tế
Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thường xun
phải tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, trên mọi lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, văn hố- xã hội, ngoại giao, hợp tác đầu tư Trong đó, quan hệ kinh
tế thường chiếm vị trí quan trọng và là cơ sở cho các mối quan hệ quốc tế khác.
Q trình tiến hành các hoạt động nêu trên, tất yếu nảy sinh những nhu
cầu chi trả, thanh tốn tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Từ đó
nảy sinh nhu cầu thực hiện các hoạt động thanh tốn quốc tế.
Thanh tốn quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên cơ
sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này
với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế,
thơng qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ.
Cùng với xu hướng khơng ngừng mở rộng quan hệ thương mại và các
mối quan hệ khác giữa các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi hoạt động thanh tốn
quốc tế cũng phải được mở rộng, hồn thiện để đáp ứng u cầu phục vụ tốt
hơn.
2. Vai trò của hoạt động thanh tốn quốc tế của Ngân hàng
thương mại

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13

Ngày nay, trong xu hướng tồn cầu hố nền kinh tế và thương mại quốc tế
ngày càng phát triển thì TTQT đã trở thành một hoạt động cơ bản, khơng thể
thiếu của các NHTM. Hoạt động TTQT của NHTM là một mắt xích khơng thể
thiếu được trong tồn bộ dây truyền thực hiện một hợp đồng ngoại thương. Thực
hiện tốt vai trò trung gian thanh tốn của mình trong hoạt động TTQT, NHTM
đã đóng góp rất nhiều cho khách hàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản
thân ngân hàng.
Đối với khách hàng
Vai trò trung gian thanh tốn trong hoạt động TTQT của NHTM giúp cho
q trình thanh tốn theo u cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng,
chính xác, an tồn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong q trình thực hiện
thanh tốn, nếu khách hàng khơng đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của
ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu chứng từ xuất khẩu. Qua việc thực hiện
thanh tốn ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng.
Đối với nền kinh tế
TTQT là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động kinh doanh
đối ngoại. Hoạt động thanh tốn tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương
phát triển, đẩy mạnh q trình sản xuất lưu thơng hàng hố, tăng nhanh tốc độ
chu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm
tăng khối lượng thanh tốn khơng dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu
hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam.
Đối với bản thân ngân hàng
Hoạt động TTQT có vai trò hết sức quan trọng đối với bản thân NHTM.
Trước hết, nó tạo ra một khoản lợi nhuận khơng nhỏ đóng góp vào khoản lợi
nhuận chung của ngân hàng. Ngồi ra, nó còn hỗ trợ cho các hoạt động khác của
ngân hàng. Hoạt động TTQT cũng giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng
có nhu cầu TTQT, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mơ hoạt động của
mình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT mà ngân hàng đẩy mạnh được hoạt động
tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Đồng thời ngân hàng phát triển được các nghiệp
vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh.
Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường quốc
tế cũng như uy tín đối với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể khai thác được
các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngồi và nguồn vốn trên thị
trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Hoạt động TTQT cũng làm tăng cường quan hệ đối ngoại của ngân hàng,
tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, đồng thời giúp cho ngân hàng
vượt khỏi phạm vi quốc gia và hồ nhập với các ngân hàng thế giới.
Tóm lại, có thể khẳng định vai trò vai trọng của hoạt động TTQT của
NHTM đối với khách hàng, nền kinh tế và bản thân ngân hàng.
3. Các điều kiện trong thanh tốn quốc tế của Ngân hàng thương mại
Thơng thường trong quan hệ thanh tốn giữa các nước, các vấn đề có liên
quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà đơi bên đề ra để giải quyết và thực hiện được
quy định lại thành những điều kiện gọi là điều kiện thanh tốn quốc tế. Những
điều kiện đó bao gồm: điều kiện về tiền tệ, về địa điểm, về thời gian và về
phương thức thực hiện thanh tốn.
3.1. Điều kiện về tiền tệ
Điều kiện tiền tệ có nghĩa là việc quy định thống nhất sử dụng đơn vị tiền
tệ nào để tính tốn và thanh tốn trong các hợp đồng xuất nhập khẩu và hiệp
định ký giữa các nước, đồng thời quy định phương thức xử lý khi có sự biến
động về giá trị của đồng tiền đó xảy ra.
Có nhiều cách thức để phân loại tiền tệ sử dụng trong hợp đồng. Nếu căn
cứ vào hình thái tồn tại của tiền tệ thì chia làm hai loại: tiền mặt và tiền ghi sổ
hoặc tiền chuyển khoản. Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng cơng cụ tiền tệ trong
thanh tốn, có thể phân làm hai loại: tiền tệ tính tốn và tiền tệ thanh tốn. Còn
nếu căn cứ vào phạm vi sử dụng của tiền tệ thì bao gồm: tiền tệ thế giới, tiền tệ
quốc tế và tiền tệ quốc gia.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét