Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Một số vấn đề về chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
5
để tạo đà phát triển. Để khắc phục tình trạng này, các quốc gia phải nhập khẩu
các thiết bị, máy móc, kỹ thuật cơng nghệ tiên tiến.
Hơn nữa, xu thế tiêu dùng của thế giới ngày nay đòi hỏi ngày càng cao về
chất lƣợng sản phẩm. Để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hố trên thị trƣờng
quốc tế, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tƣ để nâng cao trình độ cơng nghệ
của mình - đây là một u cầu cấp bách đặt ra đối với các doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu. Từ đó, xuất hiện nhu cầu nâng cao cơng nghệ của các doanh
nghiệp, trong khi xu hƣớng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao cơng
nghệ cũng đang ngày càng phát triển và các nƣớc phát triển (DCs) muốn chuyển
giao cơng nghệ của họ sang LDCs. Hai nhân tố trên có tác động rất quan trọng
tới q trình chuyển giao cơng nghệ, nâng cao trình độ cơng nghệ quốc gia. Tuy
nhiên, một yếu tố vơ cùng quan trọng mà nếu thiếu nó thì q trình chuyển giao
cơng nghệ khơng thể diễn ra đƣợc, đó là nguồn ngoại tệ, nhƣng khó khăn này
đƣợc khắc phục thơng qua hoạt động xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu đem lại
nguồn thu ngoại tệ và các quốc gia có thể dùng nguồn thu này để nhập cơng
nghệ phục vụ cho sản xuất. Trên ý nghĩa đó, có thể nói, xuất khẩu quyết định
quy mơ và tốc độ nhập khẩu.
2.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH -
HĐH
Do xuất khẩu mở rộng đầu ra, mang lại nguồn ngoại tệ cao nên các nhà
đầu tƣ sẽ có xu hƣớng đầu tƣ vào những ngành có khả năng xuất khẩu. Sự phát
triển của các ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu tạo ra nhu cầu đối với các
ngành sản xuất đầu vào nhƣ: điện, nƣớc, ngun vật liệu, máy móc thiết bị
Các nhà sản xuất đầu vào sẽ đầu tƣ mở rộng sản xuất để đáp ứng các nhu cầu
này, tạo ra sự phát triển cho ngành cơng nghiệp nặng. Hoạt động xuất khẩu đem
lại nguồn thu ngoại tệ cho NSNN để đầu tƣ cơ sở hạ tầng, đầu tƣ vốn, cơng nghệ
cao cho những ngành cơng nghiệp trọng điểm, mũi nhọn. Xuất khẩu tạo ra
nguồn thu nhập cao cho ngƣời lao động, khi ngƣời lao động có thu nhập cao sẽ
tạo ra nhu cầu cho các ngành sản xuất cơng nghiệp nhẹ, hàng điện tử, hàng cơ
khí, làm nâng cao sản lƣợng của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Tỷ trọng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
ngành cơng nghiệp ngày càng tăng kéo theo sự phát triển của ngành dịch vụ với
tốc độ cao hơn. Nhƣ vậy, thơng qua các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp, hoạt
động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu tƣ và cơ cấu nền kinh tế theo
hƣớng cơng nghiệp hố và hội nhập. Một nền kinh tế mà sản xuất và xuất khẩu
những hàng hố thị trƣờng thế giới đang có nhu cầu chứ khơng phải sản xuất và
xuất khẩu những gì mà đất nƣớc có. Điều này sẽ tạo cho sự dịch chuyển kinh tế
của đất nƣớc một cách hợp lý và phù hợp.
2.4. Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho xã hội và nâng cao
hiệu quả của nền kinh tế trong quan hệ thương mại quốc tế
Xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Ở đây, chúng ta
sẽ xem xét hiệu quả dƣới góc độ nghĩa rộng, bao gồm cả hiệu quả kinh doanh và
hiệu quả kinh tế. Theo tính tốn của các nhà kinh tế, nếu đẩy mạnh xuất khẩu,
tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu sẽ góp phần tạo mở cơng ăn việc làm đối với
ngƣời lao động. Nếu tăng thêm 1 tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu sẽ tạo ra từ
40.000 -50.000 chỗ làm việc trong nền kinh tế. Giải quyết việc làm sẽ bớt đi một
gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân, có tác dụng ổn định chính trị, tăng cao mức
thu nhập của ngƣời lao động.
Xuất khẩu tăng sẽ tạo điều kiện để tăng việc làm, đặc biệt trong ngành
nơng nghiệp, cơng nghiệp chế biến các sản phẩm nơng - lâm - ngƣ nghiệp, cơng
nghiệp dệt may - là những ngành sử dụng nhiều lao động. Đó là vì xuất khẩu đòi
hỏi nơng nghiệp phải tạo ra những vùng ngun liệu lớn, đáp ứng cho nhu cầu
lớn của nền cơng nghệ sản xuất hàng loạt với khối lƣợng lớn để nâng cao hiệu
quả, đồng thời xuất khẩu cũng buộc cơng nghiệp chế biến phải phát triển để phù
hợp với chất lƣợng quốc tế, phục vụ thị trƣờng bên ngồi. Hiện nay, mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của LDCs là hàng nơng sản, hàng cơng nghiệp nhẹ, dầu thơ,
thủ cơng mỹ nghệ Điều đó sẽ giải quyết tình trạng thiếu cơng ăn việc làm
trầm trọng ở các nƣớc này. Việt Nam là nƣớc đang phát triển, có dân số phát
triển nhanh và thuộc loại dân số trẻ, tức là lực lƣợng lao động rất đơng, tuy
nhiên trình độ tay nghề, trình độ khoa học cơng nghệ chƣa cao. Hơn nữa, Việt
Nam lại là nƣớc nơng nghiệp với trên70% dân số làm việc trong lĩnh vực nơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
nghiệp, các hoạt động mang tính thời vụ, do đó, vào thời điểm nơng nhàn, số lao
động khơng có việc làm ở nơng thơn rất lớn, tràn ra thành thị tạo ra sức ép về
việc làm đối với tồn bộ nền kinh tế nói chung và đối với các thành phố nói
riêng.
Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nơng nghiệp góp phần mở rộng sản
xuất nơng nghiệp, nâng cao giá trị nơng sản, nâng cao thu nhập cho ngƣời nơng
dân, tạo ra nhu cầu về hàng cơng nghiệp tiêu dùng ở vùng nơng thơn và hàng
cơng nghiệp phục vụ sản xuất nơng nghiệp. Ngồi ra, cũng phải kể đến một hoạt
động xuất khẩu góp phần giải quyết cơng ăn việc làm là xuất khẩu lao động và
hoạt động sản xuất hàng gia cơng cho nƣớc ngồi, đây là hoạt động rất phổ biến
trong ngành may mặc ở nƣớc ta và đã giải quyết đƣợc rất nhiều việc làm.
2.5. Xuất khẩu là cơ sở để thực hiện phương châm đa dạng hố và đa
phương hố trong quan hệ đối ngoại của Đảng
Thơng thƣờng hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế
đối ngoại khác, nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất
khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tƣ, vận tải quốc
tế Đến lƣợt nó, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng
xuất khẩu.
Thơng qua xuất khẩu, các quốc gia mới có điều kiện trao đổi hàng hố -
dịch vụ qua lại. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Chuyển dịch cơ
cấu xuất khẩu là thiết thực góp phần thực hiện phƣơng châm đa dạng hố và đa
phƣơng hố quan hệ đối ngoại của Việt Nam, thơng qua:
- Phát triển khối lƣợng hàng xuất khẩu ngày càng lớn ra thị trƣờng các
nƣớc, nhất là những mặt hàng chủ lực, những sản phẩm mũi nhọn.
- Mở rộng thị trƣờng xuất khẩu sang những thị trƣờng mới mà trƣớc đây
ta chƣa xuất đƣợc nhiều.
- Thơng qua xuất khẩu nhằm khai thác hết tiềm năng của đối tác, tạo ra
sức cạnh tranh nhiều mặt giữa các đối tác nƣớc ngồi trong làm ăn, bn bán với
Việt Nam.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Tóm lại, xu thế tồn cầu hố, khu vực hố tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau
sâu sắc, hình thành đan xen giữa lợi ích và mâu thuẫn, giữa hợp tác và cạnh
tranh kinh tế, thƣơng mại giữa các trung tâm, giữa các quốc gia ngày càng gay
gắt. Nghệ thuật khơn khéo, thơng minh của ngƣời lãnh đạo là biết phân định tình
hình, lợi dụng mọi mâu thuẫn, tranh thủ mọi thời cơ và khả năng để đẩy mạnh
xuất khẩu, đƣa đất nƣớc tiến lên trong cuộc cạnh tranh phức tạp, gay gắt.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU
TRONG Q TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
1. Khái niệm cơ cấu xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu là tổng thể các bộ phận giá trị hàng hố xuất khẩu hợp
thành tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia cùng với những mối quan hệ
ổn định và phát triển giữa các bộ phận hợp thành đó trong một điều kiện kinh tế
- xã hội cho trƣớc tƣơng ứng với một thời kỳ xác định.
Cơ cấu xuất khẩu là kết quả q trình sáng tạo ra của cải vật chất và dịch
vụ của một nền kinh tế thƣơng mại tƣơng ứng với một mức độ và trình độ nhất
định khi tham gia vào q trình phân cơng lao động quốc tế. Nền kinh tế nhƣ thế
nào thì cơ cấu xuất khẩu nhƣ thế và ngƣợc lại, một cơ cấu xuất khẩu phản ánh
trình độ phát triển kinh tế tƣơng ứng của một quốc gia. Chính vì vậy, cơ cấu
xuất khẩu mang đầy đủ những đặc trƣng cơ bản của một cơ cấu kinh tế tƣơng
ứng với nó, nghĩa là nó mang những đặc trƣng chủ yếu sau đây:
- Cơ cấu xuất khẩu bao giờ cũng thể hiện qua hai thơng số: số lƣợng và
chất lƣợng. Số lƣợng thể hiện thơng qua tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng
thể và là hình thức biểu hiện bên ngồi của một cơ cấu xuất khẩu. Còn chất
lƣợng phản ánh nội dung bên trong, khơng chỉ của tổng thể kim ngạch xuất khẩu
mà còn của cả nền kinh tế. Sự thay đổi về số lƣợng vƣợt qua ngƣỡng giới hạn
nào đó, đánh dấu một điểm nút thay đổi về chất của nền kinh tế.
- Cơ cấu xuất khẩu mang tính khách quan.
- Cơ cấu xuất khẩu mang tính lịch sử, kế thừa. Sự xuất hiện trạng thái cơ
cấu xuất khẩu sau bao giờ cũng bắt đầu và trên cơ sở của một cơ cấu trƣớc đó,
vừa kế thừa vừa phát triển.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
- Cơ cấu xuất khẩu cần phải bảo đảm tính hiệu quả.
- Cơ cấu xuất khẩu có tính hƣớng dịch, có mục tiêu định trƣớc.
- Cơ cấu xuất khẩu cũng nhƣ nền kinh tế ln ở trạng thái vận động phát
triển khơng ngừng từ thấp đến cao, từ chƣa hồn thiện đến hồn thiện hơn.
Do những đặc trƣng nhƣ vậy nên cơ cấu xuất khẩu là một đối tƣợng của
cơng tác kế hoạch hố phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những tiêu thức
quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
2. Phân loại cơ cấu xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu có thể đƣợc phân chia theo những tiêu thức
khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách thức tiếp cận. Thơng thƣờng,
ngƣời ta tiếp cận theo hai hƣớng: giá trị xuất khẩu đã thực hiện ở đâu (theo thị
trƣờng) và giá trị những gì đã đƣợc xuất khẩu (theo mặt hàng hay nhóm hàng).
Vì vậy, có hai loại cơ cấu xuất khẩu phổ biến.
2.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Là sự phân bổ giá trị kim ngạch xuất khẩu theo nƣớc, nền kinh tế và khu
vực lãnh thổ thế giới, với tƣ cách là thị trƣờng tiêu thụ. Loại cơ cấu này phản
ánh sự mở rộng quan hệ bn bán với các nƣớc trên thế giới và mức độ tham gia
vào phân cơng lao động quốc tế. Xét về bản chất, cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu là
kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, khoa học cơng nghệ, chính
sách đối ngoại của một quốc gia. Thị trƣờng xuất khẩu xét theo lãnh thổ thế giới
thƣờng đƣợc chia ra nhiều khu vực khác nhau: thị trƣờng châu Á, Bắc Mỹ, Đơng
Nam Á, EU Do đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống khác nhau
nên các thị trƣờng có những đặc điểm khơng giống nhau về cung, cầu, giá cả và
đặc biệt là những quy định về chất lƣợng, do đó, khi thâm nhập vào những thị
trƣờng khác nhau cần tìm hiểu những điều kiện riêng nhất định của họ.
2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Cơ cấu hàng xuất khẩu
Có thể hiểu một cách đơn giản, cơ cấu hàng xuất khẩu là tỷ lệ tƣơng quan
giữa các ngành, mặt hàng xuất khẩu hoặc tỷ lệ tƣơng quan giữa các thị trƣờng
xuất khẩu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Thƣơng mại là một lĩnh vực trao đổi hàng hố, đồng thời là một ngành
kinh tế kỹ thuật có chức năng chủ yếu là trao đổi hàng hố thơng qua mua bán
bằng tiền, mua bán tự do trên cơ sở giá cả thị trƣờng. Cơ cấu hàng hố xuất khẩu
là một phân hệ của cơ cấu thƣơng mại, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu,
tƣơng đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lƣợng sản
xuất và quan hệ sản xuất thuộc hệ thống kinh doanh thƣơng mại trong điều kiện
lịch sử cụ thể.
Mặt hàng xuất khẩu của mỗi quốc gia rất đa dạng, phong phú nên có thể
phân loại cơ cấu hàng xuất khẩu theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Xét theo cơng dụng của sản phẩm: coi sản phẩm xuất khẩu thuộc tƣ liệu
sản xuất hay tƣ liệu tiêu dùng và trong tƣ liệu sản xuất lại chia thành ngun liệu
đầu vào, máy móc thiết bị, thiết bị tồn bộ.
- Căn cứ vào tính chất chun mơn hố sản xuất theo ngành: phân chia
thành: (i) sản phẩm cơng nghiệp nặng và khống sản, (ii) cơng nghiệp nhẹ và thủ
cơng nghiệp, (iii) sản phẩm nơng - lâm - ngƣ nghiệp Đây cũng chính là tiêu
thức mà thống kê của Việt Nam thƣờng lựa chọn và đƣợc chia thành 3 nhóm
chính (i), (ii), (iii).
- Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của sản phẩm: phân chia thành sản phẩm
thơ, sơ chế hoặc chế biến.
- Dựa vào hàm lƣợng các yếu tố sản xuất mà cấu thành nên giá trị của sản
phẩm: sản phẩm có hàm lƣợng lao động cao, sản phẩm có hàm lƣợng vốn cao
hoặc cơng nghệ cao.
Mỗi loại cơ cấu mặt hàng theo cách phân loại nói trên chỉ là phản ánh một
mặt nhất định của cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Điều đó có nghĩa khi nhìn vào cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu của một quốc gia trong một giai đoạn, có thể đánh giá
đƣợc nhiều vấn đề khác nhau, tuỳ vào góc độ xem xét. Nhìn chung, cơ cấu mặt
hàng xuất khẩu phản ánh hai đặc trƣng cơ bản: sự dƣ thừa hay khan hiếm về
nguồn lực và trình độ cơng nghệ của sản xuất cũng nhƣ mức độ chun mơn
hố.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Hiện nay, theo phân loại của tổ chức thƣơng mại quốc tế (WTO), các
hàng hố tham gia thƣơng mại quốc tế đƣợc chia thành 10 nhóm theo mã số nhƣ
sau:
0 - lƣơng thực, thực phẩm
1 - đồ uống và thuốc lá
2 - ngun liệu thơ
3 - dầu mỏ
4 - dầu, chất béo động thực vật
5 - hố chất
6 - cơng nghiệp cơ bản
7 - máy móc, thiết bị, giao thơng vận tải
8 - sản phẩm chế biến hỗn hợp
9 - hàng hố khác
Theo cơ cấu này cho thấy một cách tƣơng đối đầy đủ về hàng hố xuất
khẩu của một quốc gia. Tuy nhiên, khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam thì cơ
cấu này trở nên khơng đầy đủ, vì sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu
nằm ở nhóm 0 và nhóm 2, 3, hơn nữa còn thể hiện ở nhóm sản phẩm thủ cơng
mỹ nghệ (nhóm sản phẩm truyền thống của Việt Nam).
Khi định hƣớng chuyển dịch cơ cấu theo tiêu chuẩn này sẽ gặp nhiều khó
khăn. Để có thể phát huy đƣợc ƣu điểm và khắc phục đƣợc nhƣợc điểm khi áp
dụng vào điều kiện Việt Nam, ta đƣa ra cách phân loại hàng xuất khẩu Việt Nam
thành các nhóm sau:
1 - lƣơng thực, thực phẩm
2 - ngun liệu thơ
3 - nhiên liệu, năng lƣợng
4 - cơ khí, điện tử
5 - dệt may, da giày
6 - hàng chế biến tổng hợp
7 - thủ cơng mỹ nghệ
8 - hàng hố khác
Riêng các sản phẩm hàng hố, hệ thống phân loại quốc tế SITC (System
of International Trade Classification) chia thành 3 nhóm sản phẩm lớn:
Nhóm 1: sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm, đồ hút, đồ uống, ngun nhiên
liệu thơ và khống sản.
Nhóm 2: sản phẩm chế biến.
Nhóm 3: sản phẩm hố chất, máy móc thiết bị và phƣơng tiện vận tải.
Trên đây là một số loại cơ cấu phân theo các tiêu thức khác nhau, mỗi loại
cơ cấu có ƣu điểm, nhƣợc điểm khác nhau, thậm chí ƣu điểm trong thời gian này
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
lại là nhƣợc điểm trong thời gian khác. Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu
việc chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Sự cần thiết phải đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu.
Thứ nhất, đổi mới cơ cấu xuất khẩu có mối quan hệ hữu cơ với q trình
CNH - HĐH và hội nhập kinh tế. Để có đƣợc đánh giá chính xác và tồn diện
thực trạng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu trong thời gian vừa qua và định hƣớng
cho thời gian tới, cần phải dựa trên quan điểm cụ thể về CNH - HĐH.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội tồn quốc IX của Đảng đã chỉ rõ: “Đẩy
mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đƣa nƣớc ta trở thành
một nƣớc cơng nghiệp; ƣu tiên phát triển lực lƣợng sản xuất, đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hƣớng XHCN; phát huy cao độ nội lực,
đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngồi và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để
phát triển nhanh, có hiệu quả bền vững; tăng trƣởng kinh tế đi liền với phát triển
văn hố, từng bƣớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực
hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện mơi trƣờng; kết hợp phát
triển kinh tế - xã hội với tăng cƣờng quốc phòng - an ninh”. Những mục tiêu,
quan điểm và tƣ tƣởng chỉ đạo về CNH - HĐH đất nƣớc đƣợc phản ánh rõ nét
nhất là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH - HĐH; hƣớng mạnh về
xuất khẩu có lựa chọn; CNH - HĐH theo hƣớng mở cửa và hội nhập với thế
giới.
Rõ ràng, giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với CNH - HĐH có mối quan hệ
biện chứng, cái nọ vừa là hệ quả nhƣng lại là tiền đề cho cái kia. Song xuất khẩu
hàng hố chỉ là một khâu trong q trình tái sản xuất và là một bộ phận trong
tổng thể nền kinh tế nói chung, cho nên một mặt nó giữ vai trò thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH - HĐH, mặt khác với tƣ cách là chủ thể
vừa diễn ra trong q trình CNH - HĐH, lại vừa diễn ra q trình chuyển dịch
cơ cấu trong bản thân lĩnh vực xuất khẩu.
Thứ hai, những thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu trên thị trƣờng quốc tế có
những chiều hƣớng mới, các xu hƣớng rõ nét nhất là:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
- Xuất khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân
của các quốc gia, thể hiện mức độ mở cửa của các nền kinh tế quốc gia trên thị
trƣờng thế giới.
- Tốc độ tăng trƣởng của hàng hố “vơ hình” nhanh hơn các hàng hố
“hữu hình”.
- Giảm đáng kể tỷ trọng các nhóm hàng lƣơng thực, thực phẩm.
- Giảm mạnh tỷ trọng của ngun liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và
khí đốt.
- Tăng nhanh tỷ trọng của sản phẩm cơng nghiệp chế biến, nhất là máy
móc thiết bị.
Tình hình trên bắt buộc Việt Nam phải thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.
Thứ ba, chỉ có thay đổi cơ cấu xuất khẩu hàng hố, chúng ta mới phát huy
thế mạnh lợi thế của đất nƣớc về nguồn lao động dồi dào, tài ngun thiên nhiên
phong phú, và vị trí địa lý thuận lợi, đồng thời khắc phục đƣợc yếu kém về vốn,
trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý.
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sẽ tăng cƣờng sức cạnh tranh
của hàng hố Việt Nam trên thị trƣờng thế giới.
Một xu hƣớng của thị trƣờng thế giới hiện nay là các sản phẩm có hàm
lƣợng khoa học và cơng nghệ cao, sức cạnh tranh mạnh mẽ, trong khi các sản
phẩm ngun liệu thơ ngày càng mất giá và kém sức cạnh tranh. Chu kỳ sống
của các loại sản phẩm xuất khẩu đƣợc rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, cơng nghệ,
mẫu mã hàng hố diễn ra liên tục. Đây là một kết quả tất yếu khi khoa học kỹ
thuật phát triển, bởi chính sự phát triển đó làm giảm giá thành sản phẩm, sự tiêu
hao ít ngun liệu, dẫn tới nhu cầu về ngun liệu ngày càng có xu hƣớng giảm.
Chuyển dịch cơ cấu hàng hố xuất khẩu làm cho hàng hố xuất khẩu của
Việt Nam có sự cạnh tranh lớn hơn trên thị trƣờng. Việc tăng cƣờng xuất khẩu
những sản phẩm tinh chế sẽ giúp chúng ta thu đƣợc giá trị xuất khẩu lớn hơn.
Mặt khác, cải biến cơ cấu xuất khẩu sẽ hạn chế việc sản xuất và xuất khẩu
những sản phẩm khơng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, hạn chế xuất khẩu bằng mọi
giá, bất chấp hiệu quả kinh tế - xã hội và lợi ích quốc gia.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Hàng hố nơng sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là ngun
liệu thơ và sản phẩm sơ chế, vì vậy, sức cạnh tranh kém, ngƣời xuất khẩu bị ép
giá thiệt thòi. Trong thực tế mấy năm gần đây đã chứng tỏ điều đó, các mặt hàng
nơng sản trên thế giới đều có xu hƣớng “cung lớn hơn cầu”, giá giảm. Để nâng
cao cạnh tranh, cũng nhƣ hạn chế sự giao động về giá cả thì khơng còn con
đƣờng nào khác là phải đổi mới cơ cấu xuất khẩu theo hƣớng tăng cƣờng xuất
khẩu các mặt hàng tinh chế, giảm dần sản phẩm thơ và sản phẩm sơ chế.
Thứ năm, sự phát triển của thƣơng mại quốc tế ngày càng mở rộng về
mức độ, phạm vi, phƣơng thức cạnh tranh với nhiều cơng cụ khác nhau nhƣ:
chất lƣợng, giá cả, bao bì, mẫu mã, điều kiện giao hàng, thanh tốn các dịch vụ
sau bán hàng đòi hỏi xuất khẩu các mặt hàng phải linh hoạt để thích ứng.
Cuối cùng, sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế mỗi quốc gia đều
tham gia vào các hiệp ƣớc, hiệp hội khu vực và quốc tế u cầu các nƣớc đang
phát triển nhƣ Việt Nam phải có sự chuyển biến nhanh chóng trong thƣơng mại
quốc tế, mà nội dung quan trọng là phải chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu. Bởi
những yếu tố khách quan cũng nhƣ chủ quan, có thể nhìn nhận trong thời gian
này, kinh tế thế giới và khu vực vẫn đang ở trong chu kỳ suy thối, thậm chí
dƣờng nhƣ ở đáy của chu kỳ này. Do vậy, những nỗ lực gia tăng sản lƣợng đã
khơng đủ bù đắp lại thiệt hại về giá cả trên thị trƣờng thế giới. Chúng ta khơng
thể phát triển đất nƣớc dựa vào xuất khẩu những gì hiện có và nhập khẩu những
gì cần thiết, đã đến lúc đòi hỏi phải có chất lƣợng lâu dài về cơ cấu xuất khẩu
hàng hố.
III. NHỮNG CĂN CỨ CĨ TÍNH KHOA HỌC CỦA VIỆC XÁC
ĐỊNH CƠ CẤU XUẤT KHẨU
1. Chủ nghĩa trọng thƣơng (Mercantisme)
Chủ nghĩa trọng thƣơng cho rằng một nƣớc trở nên giàu có và hùng mạnh
là nhờ đẩy mạnh xuất khẩu. Nhƣng xuất khẩu khơng phải là để nhập khẩu mà để
thu về vàng bạc và đá q, coi đó là tài tài sản duy nhất. Thomas Mun (1571 -
1641) là ngƣời đại diện điển hình nhất của quan điểm trên. Trong cuốn sách:
“Kho bạc nƣớc Anh qua thƣơng mại quốc tế” ơng đã lớn tiếng đòi cấm xuất
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét