Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
Trong quá trình hoạt động của các NHTM có thể tăng thêm vốn điều lệ của mình
nhưng phải được sự đồng ý chấp nhận của Ngân hàng Trung Ương.
b) Các quỹ dự trữ
Các quỹ dự trữ của NHTM được hình thành và tạo lập trong quá trình hoạt
động của ngân hàng nhằm sử dụng cho có mục đích nhất định.
Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, hàng năm tổ chức tín dụng phải
trích từ lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ sau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích hàng năm theo tỷ lệ 5% trên lợi
nhuận ròng, mức tối đa của quỹ do chính phủ quy định.
- Các quỹ khác: Quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ phát triển nghiệp vụ
ngân hàng…các quỹ quỹ này cũng được trích lập sử dụng theo quy định của pháp
luật.
Các quỹ dự trữ sau khi đã được trích lập các NHTM được sử dụng theo mục
đích lập quỹ. Tuy nhiên, khi số tiền của quỹ chưa sử dụng đến thì các NHTM có thể
tạm thời huy động theo nguyên tắc hoàn trả làm nguồn vốn kinh doanh.
c) Các nguồn vốn khác
Một số nguồn vốn khác được coi như vốn tự có của ngân hàng, bao gồm:
- Lợi nhuận giữ lại
-Thu nhập lớn hơn chi phí
- Khấu hao tài sản cố định
2.1.2.2. Nguồn vốn huy động
a) Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của
họ được gửi tại ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời nhàn rỗi được
giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử
dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định (Các quỹ: đầu tư phát
triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ phúc lợi khen thưởng…)
* Tiền gửi không kỳ hạn
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
5
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách hàng gửi tiền có
thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng và ngân hàng
phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng.
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện
các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các
khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức
thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền. Đối với Ngân hàng, loại tiền gửi này
thường có sự dao động lớn vì người gửi tiền có thể gửi tiền và rút ra bất cứ lúc nào,
do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng tỷ lệ nhất định để cho vay nên Ngân hàng thường
áp dụng lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.
* Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền mà khi khách hàng gửi tiền vào có sự thỏa thuận về thời hạn rút ra
giữa ngân hàng và khách hàng.
Theo nguyên tắc, đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra khi
đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh mà ngân hàng cho phép khách
hàng rút trước kỳ hạn. Trong trường hợp này, người gửi không được hưởng lãi như
tiền gửi có kỳ hạn mà sẽ được áp dụng với lãi suất không kỳ hạn nếu rút ra truớc khi
đáo hạn.
Khác với tiền gửi thanh toán, tiền gửi định kỳ là tiền gửi tạm thời chưa sử
dụng hoặc tiền để dành của cá nhân, vì mục đích gửi tiền vào Ngân hàng là nhằm mục
đích kiếm lợi tức. Đối với Ngân hàng, tiền gửi định kỳ là nguồn vốn ổn định trong
kinh doanh, do đó lãi suất mà Ngân hàng áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn lãi
suất tiền gửi thanh toán không kỳ hạn. Mặt khác để khuyến khích khách hàng gửi tiền
theo định kỳ dài hạn, thông thường Ngân hàng áp dụng lãi suất cao đối với các khoản
tiền gửi dài hạn (vì tiền gửi định kỳ giúp Ngân hàng có thể sử dụng vốn đó để kinh
doanh qua việc cho vay trung, dài hạn, mua sắm các thiết bị cũng như đầu tư vào một
số lĩnh vực….)
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
6
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
b) Tiền gửi tiết kiệm
Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác
định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật và bảo hiểm tiền gửi.
*Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Là loại tiền gửi không có thời hạn đáo hạn mà người gửi muốn rút ra phải
thông báo cho Ngân hàng biết trước một thời gian. Tuy nhiên, ngày nay các Ngân
hàng cho phép khách hàng rút ra không cần báo trước. Tiền gửi này chủ yếu là tiền
gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế và Chính phủ. Nhưng do nhu cầu chi tiêu không
xác định được trước nên khách hàng chỉ gửi tiền không kỳ hạn nghĩa là có thể rút ra
bất cứ lúc nào. Do đó Ngân hàng không chủ động được nguồn vốn nên loại tiền gửi
này có mức lãi suất thấp.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Người ký thác tiền này ở Ngân hàng để sử dụng vào mục đích nhất định như
mua sắm nhà cửa, trang trải chi phí học tập cho con cái Ngân hàng thường cấp thêm
tín dụng để bù đắp thêm phần thiếu hụt khi sử dụng vào mục đích của người gửi tiền
tiết kiệm.
Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn. Nếu rút vốn trước
hạn thì phải được chấp nhận của lãnh đạo ngân hàng và hưởng lãi suất không kỳ hạn.
Về hình thức, theo truyền thống, người gửi tiền được cấp một sổ gọi là sổ tiết
kiệm, trên sổ này ghi rõ tất cả các khoản tiền gửi vào rút ra và lãi suất. Mỗi lần gửi
tiền hoặc rút tiền, khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm cho ngân hàng để ngân hàng
ghi bút toán. Ngày nay, nhiều ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm, thay vào đó cung cấp cho
khách hàng bảng kê lúc gửi tiền đầu tiên và theo định kỳ hàng tháng để phản ánh tất
cả các số phát sinh.
Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng không những đem lại cho ngân
hàng một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mà còn giúp cho ngân hàng có
thể nắm bắt được thông tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các tổ chức
kinh tế và cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng có
căn cứ để quy định mức vốn để đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó. Vốn
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
7
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
tiền mà ngân hàng huy động được trên các khoản tiền gửi của khách hàng còn là cơ
sở cho các tổ chức thanh tra, kiểm toán thực hiện được nhiệm vụ nhanh chóng, chính
xác phát hiện kịp thời tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không
chính đáng, xử lý kịp thời những kẻ vi phạm pháp luật.
c) Nguồn vốn huy động thông qua các chứng từ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều
kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa các tổ chức tín dụng và người mua.
* Giấy tờ có giá ngắn hạn :
Là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền
gửi ngắn hạn, tín phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
* Giấy tờ có giá dài hạn:
Là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên kể từ khi phát hành đến hết
hạn, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.
2.1.2.3. Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác
Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi
các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng
với ngân hàng Nhà nước.
a) Vay từ các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào cũng có lúc phát sinh
tình trạng tạm thời thừa vốn, và ngược lại cũng phát sinh tình trạng tạm thời thiếu
vốn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Đối
với ngân hàng, cũng có lúc ngân hàng tập trung huy động được vốn nhưng lại không
cho vay hết, trong khi đó vẫn phải trả lãi tiền gửi. Tương tự có thời điểm cho vay vốn
lớn, nhưng khả năng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được không đáp ứng đủ. Vì
vậy trong trường hợp đó ngân hàng có thể tiếp tục gửi vốn tam thời chưa sử dụng vào
ngân hàng khác để lấy lãi, hoặc đi vay các ngân hàng khác.
b) Vay từ Ngân hàng Trung Ương
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
8
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
Ngân hàng Trung ương (NHTW) đóng vai trò là ngân hàng của các ngân hàng,
là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế. Vì vậy, khi có nhu cầu, các NHTM sẽ
được NHTW cho vay vốn.
Việc cho vay vốn của NHTW đối với NHTM thông qua hình thức tái cấp vốn.
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của Ngân hàng nhằm cung ứng vốn
ngắn hạn và các phương tiện thanh toán cho các NHTM. Ngoài ra, NHTW còn thực
hiện cho vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các NHTM. Trong trường hợp đặc biệt,
khi được Chính phủ chấp thuận, NHTW còn cho vay đối với các tổ chức tín dụng tạm
thời mất khả năng thanh toán. Khoản vay này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các
khoản nợ khác của tổ chức tín dụng.
2.1.3. Những nguyên tắc trong việc quản lý tiền gửi của Khách hàng
Các nguyên tắc trong quản lý tiền gửi khách hàng ra đời nhằm đảm bảo quyền
lợi cho người gửi tiền, tạo niềm tin cho khách hàng và góp phần tạo sự hoạt động
kinh doanh ổn định. Các nguyên tắc đó như sau:
- Ngân hàng phải đảm bảo thanh toán kịp thời cho khách hàng. Để thực hiện
được nguyên tắc này, Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm tiền gửi nhất
định để cho vay, số còn lại làm quỹ dự trữ bảo đảm thanh toán cho khách hàng.
Quỹ bảo đảm thanh toán bao gồm:
+ Tiền mặt tại quỹ
+ Ngân phiếu thanh toán
+ Tín phiếu kho bạc.
+ Tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước.
+ Tiền gửi dự trữ tối thiểu bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước.
- Ngân hàng phải đảm bảo tương ứng về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng
vốn. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ có ý nghĩa tương đối.
- Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách
hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản.
Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả theo quy định của cơ
quan có thẩm quyền về thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thì khi đó ngân hàng mới
có quyền tự động trích tài khoản thanh toán có liên quan.
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
9
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
- Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản.
- Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách
hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng phải
kiểm tra con dấu và chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì ngân hàng có thể
từ chối thanh toán.
- Khi có các nghiệp vụ có liên quan đến tài khoản của khách hàng thì ngân
hàng phải kịp thời gửi giấy báo cho khách hàng. Cuối tháng, ngân hàng phải gửi bản
sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.
2.1.4. Những vấn đề chung về tín dụng
2.1.4.1. Khái niệm
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời hạn nhất định, đồng thời bên
nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.
Như vậy trong định nghĩa trên chứa đựng những nội dung sau:
- Quan hệ tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, một bên chuyển giao
tiền hoặc hàng hoá cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Bên chuyển
giao tiền hoặc hàng hoá được gọi là người cho vay (lender). Bên nhận tiền hay hàng
hoá được gọi là người đi vay (borrower).
- Người đi vay chỉ sử dụng tiền hay hàng hoá trong thời gian nhất định, hết
thời hạn cam kết người đi vay phải hoàn trả lại lượng giá trị nêu trên cho người đi
vay. Thường thì giá trị khoản trả lớn hơn giá trị khoản vay. Đó là phần lợi tức mà
người cho vay nhận được.
Quy trình vận động của tín dụng có thể diễn tả theo sơ đồ sau:
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
10
Người cho vay
Người đi vay
T: Giá trị tín dụng
T+L: Giá trị tín dụng +lãi
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
Hình 1: Quy trình vận động của tín dụng
Trong hoạt động thực tiễn, quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa dạng
và có đủ tất cả các loại chủ thể tham gia vào các quan hệ tín dụng.
2.1.4.2. Bản chất - chức năng – vai trò của tín dụng
a) Bản chất
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho
vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác
để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. Mặc dù tín dụng có
một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái kinh tế xã hội với nhiều
hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng sau:
- Tín dụng trước hết chỉ là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện
kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi
giá trị sử dụng chúng.
- Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”.
- Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ
lợi tức tín dụng.
b) Chức năng
* Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
11
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
- Đây là chức năng cơ bản của tín dụng, nhờ chức năng này mà các nguồn vốn
tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng nhằm
phát triển nền kinh tế.
- Ở khâu tập trung vốn tiền tệ, tín dụng là nơi tập hợp những nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong xã hội.
- Ở khâu phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nguồn vốn cho sản
xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
- Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ đều được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả, vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn,
nó thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả.
* Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội
Hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông thẻ
tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, séc, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… cho phép
thay thế một lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ đó giảm bớt các chi phí có liên quan
như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền…
Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã mở ra một
khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng
với các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau, giúp giải quyết nhanh chóng
các mối quan hệ kinh tế, tạo điều kiện cho các nền kinh tế xã hội phát triển.
* Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế
Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của hai chức năng nói trên. Sự vận động
của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng
hoá, chi phí trong các xí nghiệp các tổ chức kinh tế. Vì vậy, tín dụng không những là
tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực
hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, lãng
phí, vi phạm luật pháp…, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
c) Vai trò
* Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển
- Tín dụng là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
12
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
- Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu
trong nền kinh tế, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
- Tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn, tăng tốc độ chu chuyển vốn
trong phạm vi toàn xã hội.
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế – xã hội, tạo ra động lực
phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
* Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
Tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế,
đặc biệt là trong các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần
làm ổn định tiền tệ.
Mặt khác, do cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, làm cho sản xuất ngày càng phát
triển, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ làm ra ngày càng nhiều đáp ứng được nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội. Chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn định thị trường giá
cả trong nước.
* Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, và ổn
định trật tự xã hội
- Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất
hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của các
thành viên trong xã hội, là điều kiện thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội.
- Mặt khác, trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức cho vay, vốn tín dụng cung
ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài
nguyên thiên nhiên, về lao động. Do đó, nó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động
của xã hội tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
góp phần ổn định trật tự xã hội.
* Tín dụng góp phần phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và
mở rộng giao lưu quốc tế
Sự phát triển của tín dụng không những ở trong phạm vi quốc nội mà còn mở
rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại,
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
13
Phân tích hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh 8 TP HCM
nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của
mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát
triển.
d) Phạm vi áp dụng
- Bên cho vay: là các tổ chức tín dụng được thành lập, được cấp giấy phép hoạt
động trên toàn lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính đều được phép huy động vốn và cho vay ngắn hạn tài trợ
cho hoạt động kinh doanh trong các tổ chức kinh tế bao gồm:
- Bên đi vay: là những pháp nhân, thể nhân hoạt động sản xuất kinh doanh theo
đúng pháp luật Việt Nam.
e) Nguyên tắc vay vốn
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn
đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả kinh tế.
- Việc đảm bảo tiền vay đúng quy định của chính phủ và thống đốc Ngân hàng
nhà nước.
f) Đối tượng cho vay
- Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị gia tăng
nằm trong tổng giá trị lô hàng và các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời
sống.
- Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu, khách hàng phải làm thủ tục xuất khẩu,
nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay.
- Số lãi tiền vay trả cho tổ chức tín dụng cho vay trong thời hạn thi công, chưa
bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn để đầu
tư tài sản cố định đó, mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố định đó.
- Số tiền khách hàng vay để trả cho các khoản vay tài chính cho nước ngoài
mà các khoản vay đó đã được tổ chức tín dụng trong nước bảo lãnh.
GVHD: Ths. Phan Thái Bình SVTH: Hà Thanh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét