Chuyện xong rồi, Dương Tiện trở về quán trọ nghĩ đến lời thuật sĩ không ngủ được,
nghe trống báo canh ba nghĩ bụng :
-Đã tới lúc rồi !
Đương nghĩ ngợi bỗng nghe có tiếng gọi cổng bèn ra mở cửa thì ra là 2 vợ chồng thọ
nạn đến cảm ơn. Dương Tiện an ủi 2 vợ chồng rồi tiễn họ ra cửa. Định trở về phòng ngủ
thì bỗng nhiên nghe ầm một tiếng vội chạy vào xem thì ra bức tường bị đổ đè ụp xuống
giường ngủ gẫy nát. Nếu Dương Tiện nằm trên đó thì đã tan xương nát thịt.
Ngày hôm sau, Dương Tiện đến thăm thuật sĩ cười ông đoán bậy. Thuật sĩ ngắm
nghía một lát rồi bảo :
-Ông đừng dối tôi. Nhất định hôm qua ông đã làm một việc gì đó ân đức rất lớn
khiến mặt ông đầy vẻ tốt lành. Không những ông không chết mà còn thi đậu tiến sĩ nữa.
Dương Tiện rất khâm phục. Năm đó, quả nhiên đậu tiến sĩ rồi được triều đình bổ
nhiệm vào Hàn Lâm Viện.
(Thiện Hữu Thiện Báo)
4 Thượng Thư TIỀN VĂN MẪN.
Thường Châu có nhiều dòng họ hiển quý như dòng họ Tể tướng Lã Cung, trạng
nguyên Dương Đình Ích v . v . Con cháu đều liên tục thi đỗ, thư hương bất tuyệt; chỉ có
con cháu Tiền công là suy bại. Đến nay không còn người nối dõi.
Tương truyền trong trận đánh với người Miêu, Tiền công là Hình bộ thượng thư,
tham tán quân vụ. Khi người Miêu bị đánh bại rồi, thủ lãnh đã bị giết. Chủ soái định giết
hết tráng đinh nhưng tha cho con trẻ, liền đến hỏi ý kiến Tiền công. Công bảo :
-Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc !
Do đó, già trẻ lớn bé đều bị giết sạch. Cả một giải Đồng Sơn của người Miêu bị tuyệt
chủng. Tiền công ban sư hồi trào, không lâu đột ngột mà chết. Mấy đứa con sau đó cũng
theo nhau mà chết. Các cháu phần lớn là tàn tật rồi dòng họ Tiền hương hỏa dứt tuyệt.
Sát nhân thảm báo không thể không sợ !
(Thiện Hữu Thiện Báo)
5 THẨM HỒNG PHI.
Ở Ngô Hưng có 3 anh em nhà họ Thẩm. Thẩm Hồng Phi là lão nhị, tâm địa không tốt,
tánh tình hiểm ác. Anh cả ra ngoài buôn bán để vợ ở lại nhà. Vợ thấy lão tam còn nhỏ
không sợ hiềm nghi, mỗi lần viết thư cho chồng đều vời lão tam vào phòng nhờ viết hộ.
Lại thường mời ăn uống để tạ ơn. Hồng Phi bất hoà với chị dâu, vu cáo chị dâu với lão
tam thông gian, gập ai cũng nói, khiến chị dâu bị mang tiếng xấu. Có kẻ khinh bạc còn
làm thi từ để chế diễu. Chị dâu không có cách nào thanh minh, cuối cùng treo cổ tự tận.
Hồng Phi cảm thấy rất đắc ý, hắn cho rằng sự việc ấy chứng minh lời nói của hắn là thực.
Lão tam cũng không có cách nào tự thanh minh, ưu phiền thành bịnh, không lâu cũng
chết. Một hôm, Hồng Phi từ ngoài trở về nhà bỗng kêu lên :
-Có quỷ ! Có quỷ !
Khi mọi người chạy đến, hắn bèn ra giữa đường tự mình vả vào mặt :
-Tên giặc ác tâm này ! Ngươi vu cáo ta và tiểu thúc thông gian khiến ta phải tự tử,
ngươi lại còn liên tục phá hoại danh tiết ta khiến tiểu thúc ôm hận mà thác. Ta và tiểu
thúc cáo ngươi với âm phủ, nay âm phủ cho người đến lấy mạng ngươi !
Tiếp đó lại đấm ngực :
-Ngươi và đại huynh bất hòa, ngươi vu cáo chị dâu và ta thông gian, lương tâm
ngươi để đâu ?
5
Người đi đường đứng xem rất đông; mọi người đều biết oan hồn lão tam và chị dâu
nhập xác Hồng Phi nói ra oan tình. Có một người lên tiếng hòa giải :
-Sự tình đã vậy, lấy mạng hắn có ích gì ? Chẳng bằng bảo hắn thỉnh cao tăng đến
làm pháp sự siêu độ cho nhị vị có hơn không ?
-Ta vốn không làm ác, cần gì hòa thượng siêu độ, nếu chị dâu bằng lòng thì ta cũng
bỏ qua.
-Phá hoại danh tiết người ta là một trọng tội há có thể nào hòa giải sao ?
Nói rồi Hồng Phi tự cắn lưỡi, lại lấy đá đập vào mồm, răng rụng hết, máu me đầm
đìa, sau cùng đập đầu vào cột đá mà chết. Lời ác độc không gì bằng vu khống. Thiên đạo
chí công, tự tác tự thọ.
(Thiện Hữu Thiện Báo)
6 Cái Chết Của Thượng Tướng DIỆP KỲ.
Quế Lâm là một nơi có phong cảnh rất đẹp thuộc tỉnh Quảng Tây; chủ nhiệm tỉnh bộ
là Lý Tông Nhân, phó chủ nhiệm là Bạch Sùng Hy, thượng tướng Diệp Kỳ là tham mưu
trưởng.
Trong một căn nhà nhỏ thuộc khu bình dân ở gần thị tứ , bà Tô sống với 2 con nhỏ là
Đại Oa và Nhị Oa. Bà Tô là một người đàn bà hiền thục, thích giúp đỡ mọi người; chồng
bà là Tô Tiểu Võ là một binh sĩ thuộc ngành truyền tin, là một đệ tử của Lưu Linh.
Một trưa chủ nhật, bà Tô đang may vá, Đại Oa đang học bài, Nhị Oa đang chơi
bóng, Tiểu Võ như cuồng cẳng đi đi lại lại trong phòng, bỗng bảo vợ :
-Anh ra ngoài phố chơi, thuận tiện sẽ mua óc heo về, mình cứ nấu cơm sẵn, đợi anh
về sẽ làm món nhậu chơi.
-Hàng ngày anh ít về nhà, ngày chủ nhật hãy ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe. Bữa chiều đã
có sẵn mấy món rau dưa và đậu phụ. Óc heo thì em và các con đều không dám ăn đâu,
đừng mua.
-Mình đừng cố chấp. Đại Oa đã đi học, Nhị Oa cũng sắp đi học; ăn óc heo bổ óc,
thông minh biết không ?
Đại Oa chen vào :
-Bố, đừng mua óc heo, mua bút chì cho con.
Nhị Oa cũng nói leo :
-Bố, con không muốn óc heo, con muốn ăn kẹo cơ.
-Đại Oa ! Con cố học đi bố sẽ mua bút chì cho con.; còn Nhị Oa, ăn óc heo ngon hơn
ăn kẹo con ạ !
Tiểu Võ không nghe lời vợ con, cứ đi ra phố.
Tiểu Võ đi quanh quẩn 1 vòng, qua tiệm rượu bị mùi thơm quyến rũ bèn vào kêu 1
đĩa thịt nướng và 2 bình rượu. Nhậu nhẹt xong, dường như vẫn chưa thỏa còn mua thêm
2 bình rượu đem về, lại ghé qua hàng thịt để mua óc heo. Rượu bốc lên cảm thấy nóng,
Tiểu Võ mũ đội lệch ra đằng sau, áo cởi khuy phanh ngực, tay trái cầm 2 bình rượu, tay
phải chỉ đầu heo bảo đồ tể :
-Lão bản, bán cho ta một bộ óc heo !
Đồ tể ngửi thấy mùi rượu nồng nặc đã chán ghét, nhưng thấy là binh sĩ nên nói nhỏ
nhẹ :
-Đồng chí, đầu heo, óc heo đều có người đặt mua rồi, muốn mua óc heo, ngày mai
trở lại.
Thật làm mất hứng, Tô Tiểu Võ trợn mắt, giằng lấy dao chém phăng vào đầu heo :
-Lão tử hôm nay nhất định phải mua, ngươi thấy sao hả ?
6
Đồ tể cũng nổi giận, 2 người tranh cãi náo loạn. Bỗng một con tuấn mã phi tới, từ
ngựa nhẩy xuống một vị tướng quân. Ai Vậy ? Đó chính là thượng tướng tham mưu
trưởng Diệp Kỳ. Nguyên lai ông đi qua chợ thấy 1 binh sĩ đầu đội mũ không chỉnh tề, áo
lại phanh ra, tay trái cầm bình rượu, tay phải giơ đồ đao tranh cãi với người dân. Do đó
bèn xuống ngựa để hỏi chuyện. Tô Tiểu Võ dĩ nhiên là nhận ra ông tướng của mình, vội
sửa lại mũ, bỏ rượu và đao xuống bàn, đứng ngây ra đó. Diệp Kỳ đưa mắt nhìn Tiểu Võ
từ đầu đến chân, rồi lại nhìn đồ tể, trầm giọng hỏi :
-Chuyện gì vậy ?
Đồ tể bèn thuật lại đầu đuôi. Diệp Kỳ nghĩ bụng : cầm binh thì không thể hiền, giầu
có thì khó mà giữ nghĩa. Đây chính là cơ hội ra oai quân kỷ; mặt lạnh như tiền bảo đồ tể :
-Ta là tham mưu trưởng đây, ngươi giám giết hắn không, ngươi cứ giết đi, ta hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Đồ tể giơ đồ đao lên. Tiểu Võ mắt hoa lên, quỳ xuống :
-Xin tham mưu trưởng thứ tội, vợ con tôi đang chờ tôi về ăn cơm, nào ngờ tôi . . .
Tiểu Võ nghẹn ngào không nói ra lời.
-Ngươi sợ chết sao ? Quân nhân như ngươi đánh trận gập địch quân lại quỳ đầu hàng
ư ?
Diệp Kỳ nổi giận, hướng đồ tể hét lớn :
-Giết !
Đồ tể chửi thầm trong bụng : Con mẹ nó ! Uy phong của mày nãy giờ đâu, sao bây
giờ hèn mạt thế ? Để ta thành toàn cho mày ! Bèn lia một nhát dao; đầu Tiểu Võ rớt
xuống, máu chảy lênh láng. Con ngựa hý vang, Diệp Kỳ nhẩy lên lưng nó phóng đi, về
tới dinh sai người tới thâu thi thể.
Lại nói về bà Tô nấu xong cơm chiều, đợi mãi không thấy chồng về. Các con kêu đói
bụng, đành phải cho con ăn trước, trong bụng không yên ra ngoài cửa nghe ngóng. Thấy
nhiều người tụ họp, lại thấy lão Lý bán rau đang nói chuyện với vợ chồng Vương tiên
sinh hàng xóm. Mọi người đều trợn tròn mắt, chăm chú nghe lão Lý nói. Bà Vương thấy
bà Tô đến bèn đưa mắt cho lão Lý, lão Lý liền ngậm miệng lại. Mọi người đều nhìn bà
Tô, khiến bà nghĩ chắc chồng mình có chuyện gì rồi.
Bà Vương lên tiếng :
-Bà Tô, bà đợi ông nhà về ăn cơm có phải không ?
Bà Tô gật đầu.
-Muộn quá rồi, chắc ông ấy phải vào trại, bà hãy về ăn cơm đi !
Bà Tô trở về nhà, bỗng có 2 binh sĩ khiêng 1 tấm ván trên đặt thi thể Tiểu Võ. Một vị
sĩ quan tay cầm 2 bình rượu Tiểu Võ mua đi phía sau, do hàng xóm chỉ, dẫn đến nhà Tiểu
Võ. Đại Oa và Nhị Oa đều khóc lớn. Vị sĩ quan hướng bà Tô nói rõ sự tình và đưa ra một
phong bao.
-Đây là tiền để lo việc ma chay, chỗ còn lại để nuôi dưỡng 2 cháu.
Nói rồi dẫn 2 binh sĩ đi. Bà Tô nhận tiền không bi thương khóc lóc, đứng yên bất
động. hàng xóm xúm lại an ủi nhưng bà như không nhìn, không nghe gì cả. Rất lâu, bà
mang bao tiền giao cho Vương tiên sinh :
-Nhờ ông lo giùm.
Nói rồi ngất đi, mọi người dìu bà về phòng.
Vương tiên sinh thấy tình cảnh bi thảm như vậy không thể khoanh tay; hàng xóm
cũng giúp vào, người lo mua quan tài, người sửa soạn tang phục v . v . Tất cả đều sẵng
sàng đợi sáng hôm sau sẽ an táng.
Bà Vương kéo Đại Oa ra dặn riêng :
7
-Hôm nay con phải coi chừng mẹ, nếu thấy có gì lạ phải kêu ta và Vương bá bá,
nghe không !
Đại Oa gật đầu.
Lúc gần sáng, bà Vương nghe tiếng Đại Oa và Nhị Oa khóc gọi mẹ, hai vợ chồng
vội chạy sang thì thấy Đại Oa và Nhị Oa ôm nhau mà khóc nhưng không thấy bà Tô đâu
cả. Hàng xóm đều thức dậy, chia nhau đi tìm khắp nơi, các giếng nước, bờ sông đều
không thấy tông tích bà Tô. Vương tiên sinh chỉ còn cách an táng Tiểu Võ và nuôi dưỡng
hai đứa nhỏ.
Vài tháng sau, một sáng đồ tể sửa soạn đồ nghề chuẩn bị ra chợ sớm, bỗng nghe có
tiếng mõ, rồi một ni cô đến khuyến hóa :
-Thí chủ, xin bố thí kết duyên !
Đồ tể đưa tiền, ni cô lắc đầu. Đồ tể đưa gạo ni cô cũng lắc đầu.
-Vậy cô muốn sao ?
-Xin thí chủ bố thí đồ đao .
-Người xuất gia không ăn thịt, cô dùng đồ đao làm chi ?
-Xin thí chủ buông đao, cải nghiệp đừng sát sanh nữa.
-Thịt tại trước mắt còn Phật ở Tây phương, cô muốn cả nhà tôi chết đói sao ?
-A Di Đà Phật ! Thịt ở trước mắt, Phật ở trong tâm.
Ni cô gõ mõ rồi đi. Ni cô đi rồi, người chung quanh bảo đồ tể :
-Vị ni cô vừa rồi là vợ của Tiểu Võ bị ông giết đó.
-Ái chà ! Chả trách cổ muốn đồ đao, thì ra muốn báo thù cho chồng.Nếu ta đưa đao
cho cổ chắc mạng ta không còn.
Đồ tể nói rồi xoa đầu, ra chợ tiếp tục mua bán.
Đến trưa có một người đến mua giò heo. Đồ tể giơ đao lên chặt chân heo. Bỗng nghe
tiếng ngựa hý, kinh tâm động phách. Ngẩng đầu lên coi thì thấy con tuấn mã dựng đứng 2
chân trước hất người cưỡi chân chổng lên trời, đầu chúc xuống đất. Người đó là ai ?
Chính là Diệp Kỳ. Nguyên lai Diệp Kỳ cưỡi ngựa qua đó, con ngựa lần trước thấy đồ tể
giết người làm cho sợ hãi, lần này lại thấy đồ tể vung đao lên nên hoảng kinh tưởng đồ tể
lại giết người nên cất vó hý lên hất Diệp Kỳ xuống. Đồ tể thấy ngựa chồm tới vội vất dao
xuống bàn chạy tránh, chẳng dè hấp tấp xô vào bàn, con dao văng vào cổ đứt lìa chết tốt.
Diệp Kỳ ngã ngựa đầu bị chấn thương cũng mất mạng. Không lâu, báo chí đăng bộ tư
lệnh bổ nhiệm Lý Tiên Châu thay thế Diệp Kỳ. Chuyện này ở Quế Lâm không ai không
biết.
(Hiện Đại Nhân Quả Báo Ứng Lục)
7 TRƯƠNG QUÁN SÁT.
Trương lúc còn là tú tài, nhà rất nghèo; phẩm hạnh cũng không mấy tốt, người ta
cũng sợ Trương vài phần. Tuy vậy tánh rất hào phóng, khi có tiền đều vung tán khắp,
những người nghèo khổ đều được giúp đỡ. Có lẽ vì đó mà nhà Trương thường không có
gạo nấu cơm.
Đêm trừ tịch năm nọ, nhà Trương hết gạo; Trương định đến nhà bạn bè để vay
mượn. Nhưng bạn đa số có hiềm khích, hoặc là bọn tiểu nhân, chẳng lẽ muối mặt xin
giúp đỡ. Chiều đã xuống rồi, không nghĩ ra cách gì cả, Trương chỉ đành lấy quần của vợ
đi cầm, được ít tiền mua vài thứ, để vào giỏ sách về. Nhà Trương ở trong ngõ hẹp, lúc đó
trời lại đang mưa, đường trơn tuột. Lúc gần tới nhà, Trương sơ ý bị ngã, các đồ trong giỏ
bị văng ra đường, đêm tối chẳng biết đâu mà mò. Trương tức giận về nhà, sách đèn ra
tìm. Lấy đèn soi đường, Trương bỗng thấy một cái túi, vội nhắc lên thấy rất nặng bèn
mang về nhà. Khi mở túi ra xem thì thấy có 2 đồng nguyên bảo, khoảng trên 10 lạng bạc,
8
hơn trăm đồng dương tiền, lại có một cuốn sách trước bạ ghi tên người nợ và số nợ.
Trương rất cao hứng, nhận rằng có số tiền này thì sinh hoạt sẽ được cải thiện. Khi mang
túi đi cất, Trương nghĩ bụng : đây chắc là người đi thâu tiền làm mất, nếu không giao nộp
cho chủ thì chỉ có nước chết; chi bằng ta đợi họ đến tìm rồi giao lại. Trương bèn lấy một
ít bạc lẻ đi đong gạo cho vợ thổi cơm. Sau đó cầm đèn ngồi ở cửa đợi. Ngoài trời, tuyết
bắt đầu rơi, không lâu thấy có một ông lão và 2 đứa nhỏ mang đèn đi chiếu khắp nơi tìm
kiếm gì đó. Trương biết ngay là người đánh mất túi. Đợi ông già lại gần, Trương hỏi :
-Ông tìm gì đó ?
Ông lão nhận ra Trương, biết anh ta không mấy tốt, không dám nói thật, chỉ ậm ừ
không nói. Trương tức giận :
-Ông cầm đèn soi khắp nơi nếu không phải là tìm vật đánh mất, chẳng lẽ nhận đường
đi chuẩn bị đánh cướp hay sao ? Không nói thật, ta chẳng để cho ông đi !
Ông lão bất đắc dĩ phải nói thật :
-Lão đi thâu tiền, tới đây ngồi nghỉ mệt, không ngờ trời mưa vội chạy về nhà quên
mất túi vải nên trở lại tìm. Không thấy đâu cả; có lẽ bị người lấy đem đi rồi.
-Trong túi có đồ vật gì ?
-Tiền bạc và sổ ghi nợ.
Trương thấy đúng những gì mình thấy, bèn cười :
-Hãy vào nhà tôi ngồi chơi, tôi biết ai lấy túi vải.
-Nếu ông biết ai lấy xin chỉ cho tôi.
-Chỗ này không tiện nói chuyện, mời vào nhà.
Khi hai người vào nhà rồi ông lão năn nỉ :
-Nếu ông biết ai lấy, xin cho tôi hay, tôi vĩnh viễn không dám quên ơn.
Trương rót trà, hỏi :
-Ông làm gì ?
-Tôi là người đi thâu tiền.
-Nay đánh mất sổ thâu rồi thì sao ?
-Dẫu khuynh gia bại sản cũng không đủ tiền đền, chỉ còn nước chết, nếu ông biết ai
lấy xin bảo cho biết.
Trương không đáp. Ông lão nghĩ Trương đùa mình bèn đứng dậy đi. Trương cười
bảo :
-Ông hãy ngồi chờ một lát, tôi không biết ai lấy túi của ông, nhưng tôi có vật này trả
ông.
Bèn mang túi vải đưa ra. Ông lão thất kinh, định nói lại không dám. Trương an ủi :
-Ông đừng nghi, nếu tôi tham lam thì giờ này đã ở trong quán nhậu nhẹt rồi, hà tất
ngồi ngoài trời mưa tuyết chờ ông, tôi chỉ lấy chút bạc vụn mua gạo thôi, ông không
phiền chứ ?
Ông lão vui mừng quỳ ngay xuống đất lạy tạ, khi đứng lên lấy một nửa số bạc trao
cho Trương; nhưng Trương từ chối. Ông già năn nỉ :
-Nếu ông không nhận, thực tôi không dám đi !
-Nếu ông quả thật muốn đền ơn, cho tôi mượn 2 lạng ăn tết là đủ.
Ông lão thấy Trương thành ý, không dám nói thêm, trao cho Trương 2 lạng rồi lạy tạ
mà đi. Trương mang 2 lạng bạc ra chợ mua rượu thịt về nhà cúng thần, rồi cùng vợ đối
ẩm. Ăn uống xong đi ngủ, nằm mộng thấy bị bắt đưa đến trước mặt một người. Người đó
mắng Trương :
-Ngươi làm nhiều điều bất nghĩa, nếu không chịu cải hối chỉ còn cách sa vào đường
ngạ quỷ.
9
Trương đang lúc cầu xin bỗng có một người lại mang tờ bẩm tới, người đó xem rồi
vui cười bảo :
-Đây là một việc rất tốt! Có thể trừ vào những việc xấu đã làm. Nên cho chút lộc
thưởng, mùa thu này cho thi đậu.
Lại quay bảo Trương :
-Ngươi trở về, phải sửa đổi tánh hạnh !
Trương tỉnh dậy, biết việc mình giúp ông lão được thần nhân chấp nhận, bèn thề sửa
đổi tánh tình.
Đến mùa thu, các tú tài đều đến Kim Lăng dự kỳ thi Hương; chỉ có Trương không
tiền, đến bữa ăn hàng ngày còn lo không xong, dĩ nhiên là không đi thi được. Một hôm
Trương bỗng gập ông lão ở ngoài đường. Ông lão hỏi Trương sao còn chưa đi thi,
Trương nói nhà nghèo nên không đi. Ông lão bảo :
-Ông là người tốt, sao lại không đi? Ông hãy về nhà đợi tôi.
Trương về nhà đợi, không lâu ông lão đến đưa cho Trương 20 lạng :
-Đây là tiền để dành của lão, ông có thể dùng thuyền đến Kim Lăng mà dự thi.
Trương nhận tiền cảm tạ. Khi ông lão đi rồi Trương nghĩ bụng : Đem tiền này đi dự
thi, nếu đỗ chẳng nói làm gì, nếu trượt thì sao? Chi bằng đem mua gạo cũng đủ sống nửa
năm. Định không đi thi, nhưng lại nghĩ khó nhìn mặt ông lão. Đang lúc do dự lại nghe có
tiếng gõ cửa. Ra mở cửa thì thấy ông lão và một người trẻ tuổi. Ông lão giới thiệu :
-Đây là thiếu chủ của lão, thiếu chủ thấy nghĩa cử của ông rất cảm động; nghe ông đi
thi, sợ gia đình ông thiếu thốn nên mang tặng ông 20 lạng để ông chi dùng.
Trương vui mừng quá điều mong ước, bèn lên thuyền đi thi. Khi ra bảng quả nhiên
đậu hạng cao. Ông lão lại cùng chủ nhân đến giúp Trương tiền lên kinh thi Hội. sau cùng
Trương quả nhiên đậu tiến sĩ, làm quan tới bực Quán Sát.
(Thiện Hữu Thiện Báo)
8 LƯU ÔNG.
Lưu ông là người Hàng Châu, từ nhỏ tánh tình thành thực như đếm, không thích dối
người. Nhà tuy nghèo nhưng thích giúp đỡ người. Năm 20 tuổi, cha mẹ đều mất không ai
đốc thúc, hướng dẫn, chỉ tự mình mưu sinh. Lưu có một người họ hàng làm huyện lịnh tại
tỉnh Quảng Đông. Lưu định đến nương cậy, bèn bán nhà được hơn 10 lạng, đi Quảng
Đông. Đi tới Giang Tây thì gập một người bạn đồng hương. Người này muốn về quê
nhưng trong túi chẳng còn một xu, không biết phải làm sao. Lưu bèn chia cho bạn 5
lượng để có tiền về quê. Khi đến Quảng Đông, Lưu mới hay tin người họ hàng mới mất,
vợ con đều theo linh cữu về quê rồi. Lúc đó đang ở quán trọ, tiến thối lưỡng nan, không
lâu ngã bệnh. Chủ quán thương ông còn trẻ, không người nương tựa, mời thầy thuốc trị
bệnh cho ông. Bệnh khỏi rồi, Lưu trong mình không tiền, không thể về quê, cũng không
có tiền trả chủ quán. Lưu nghĩ bụng : mình đã không có thân thích nào trên đời, cũng
chẳng có gì lưu luyến, hay là kết thúc cho xong một kiếp ? Nghĩ rồi ra Ngũ Dương
Thành, tìm chỗ vắng vẻ. Lưu cúi nhìn dòng nước chảy cuồn cuộn, chuẩn bị nhẩy xuống,
bỗng nhiên thấy ở bờ sông có vật gì chiếu lóng lánh. Lại gần xem thì ra là 1 đồng tiền
bạc. Lưu nghĩ sao ở bờ sông lại có người đánh mất bạc? Có lẽ ông trời cho ta một con
đường sống chăng ? Lại tưởng đến vùng phụ cận có nơi đánh bạc, một đồng có thể ăn 30
đồng. Mấy hôm trước có dán giấy nói hôm nay có 3 sòng bạc; hãy thử coi nếu trúng thì
có tiền về quê; nếu thua thì nhẩy sông cũng chưa muộn. Bèn trở lại, khéo đâu lại gập
ngay chủ quán cũng định đi đánh bạc. Hai người cùng đi, không ngờ đánh đâu trúng đó,
được một số tiền lớn. Về tới quán, Lưu bảo chủ quán :
10
-Tôi là người nghèo, tứ cố vô thân, tới chỗ này bệnh gần chết, nhờ ông tôi mới được
số tiền này. Hiện tôi định ở đây thành gia, lập nghiệp. Nếu kiếm được nhiều tiền nguyện
cùng ông chung hưởng, chỉ là không biết buôn bán gì ?
-Ông được số tiền này đều là do phúc phận của ông cả, tôi nào có công cán gì. Nếu
ông muốn lập nghiệp ở đây thì tôi thấy có một tiệm tạp hóa bán đồ ngoại chuẩn bị sang
lại. Ông đem tiền kinh doanh nhất định có lời lớn.
Lưu bằng lòng, lại giao cho chủ quán toàn quyền xử lý. Chủ quán là một người
thành tín, có thể tin cậy được.
Lưu làm chủ tiệm tạp hóa, phàm buôn bán thứ gì cũng được lời nhiều. Không tới 10
năm, tư kim đã lên tới 10 vạn lạng, lại quen biết nhiều thương nhân ngoại quốc. Lưu vốn
là một người thành tín, giao dịch với mọi người rất chân thành, khi đã nhận lời thì nhất
định làm cho xong. Ai gập khó khăn gì xin giúp đỡ, không bao giờ từ chối. Do đó những
thương gia ngoại quốc đều tín nhiệm. Lúc đó 1 ngân hàng ngoại quốc có 4 tầu chở hàng
hóa chưa khui ra thì được lệnh từ mẫu quốc phải trở về gấp. Định cứ để hàng ở kho,
nhưng lại sợ bị tổn thất. Bàn đi tính lại, chỉ có Lưu là người đáng tin cậy, bèn nhờ người
trung gian để liên lạc. người trung gian là hàng xóm của Lưu, vì thiếu tiền quan nên bị
bắt giam, định bán con gái để trả nợ. Lúc đó có người bảo cho Lưu biết con gái ông ấy rất
đẹp. Lưu biết chuyện bèn giúp tiền. Khi ra khỏi ngục người ấy bèn làm khế ước mang
con gái đến giao cho Lưu. Lưu không những xé khế ước, còn trả người con gái lại để cha
con họ đoàn tụ. Người hàng xóm rất cảm kích, không biết lấy gì báo đáp, nghe được
chuyện này vội đến nhà Lưu bảo cho Lưu biết. Lưu kinh ngạc nói :
-Giá trị hàng hóa của 4 tầu này rất lớn, mang cả tài sản của tôi ra cũng chưa bằng 1
phần mười. Vạn nhất có tổn thất tôi lấy gì mà đền ?
Thương gia ngoại quốc nói :
-Ông cứ nhận đi, 3 năm sau chúng tôi mới thâu tiền, có được không ?
Lúc đó Lưu tuy có nhiều tiền, nhưng chưa lập gia đình, nghe hẹn ước 3 năm, buồn
rầu bảo :
-Tôi chưa có gia đình, tuy tôi làm việc không có gì phải thẹn với lương tâm; không
dám hạnh phụ người. Nhưng việc đời khó lường. Giả sử 3 năm sau phát sinh biến cố, các
ông đi đâu mà lấy tiền ?
Lưu nhất định cự tuyệt. Lúc đó quản lý của Lưu là ông chủ quán lúc trước, là người
cũng được thương nhân ngoại quốc tín nhiệm, nhờ ông ta làm trung gian. Hàng hóa cộng
tới 100 vạn lạng, chỉ cần đưa trước 10 vạn, 3 năm sau sẽ thanh toán nốt số còn lại. 2 bên
thỏa thuận ký hợp đồng. Không tới 2 tháng sau, vì chiến tranh tầu buôn ngoại quốc đều
không đến. Hàng hoá Tây phương khan hiếm, trở nên quý. Lưu đem hàng ra bán lời gấp
3 lần. Lưu cùng chủ quán thương nghị giữ lại tiền vốn, còn bao nhiêu đem kinh doanh,
kết quả tiền đẻ ra tiền, càng lúc càng nhiều. Đương thời phú gia đại tộc đều tranh nhau gả
con gái cho Lưu. Ông lập gia đình sinh hoạt không kém gì nhà vương hầu. Nhưng Lưu
không vì giàu có mà kiêu ngạo, trái lại rất trung hậu, thận trọng và giúp đỡ mọi người. 5
năm sau, thương gia ngoại quốc trở lại. Lưu rất cao hứng mở tiệc khoản đãi có ca xướng
giúp vui. Sau vài tuần rượu Lưu nâng ly :
-Tôi may mắn nhờ hàng hóa của các vị mà ngày nay tài sản có cả trăm vạn. Không
có các vị tôi đâu có ngày nay. Nay tiền vốn và lời không thiếu một phân, nay xin giao trả.
-Đó là phúc khí của ông, đối với chúng tôi vô can. Chúng tôi chỉ xin lại vốn thôi.
Cuối cùng thương gia ngoại quốc nhận lại tiền vốn, cộng thêm tiền lời mỗi năm 1
phân. Các thương gia ngoại quốc đều ca tụng sự thành tín của Lưu.
11
Không lâu, ngân hàng ngoại thương có chuyện bê bối bị thương nhân ngoại quốc chỉ
trích. Quan phủ định cử người tiếp tay, nhưng không tìm được ai. Các thương nhân ngoại
quốc đều đề cử Lưu. Lưu không nhận :
-Ngân hàng phải dùng nhiều tiền mặt, tiền của tôi đều phân tán đi buôn bán cả, làm
sao làm được ?
-Ông không phải lo.
Do đó họ xuất tiền mặt ra cho Lưu. Lưu đành phải nhận. Sau khi tiếp nhận ngân
hàng, người ngoại quốc đều giao dịch với Lưu, không quá 10 năm trở thành cự phú, giầu
có nhất tỉnh. Lưu sống đến 90 tuổi, con cháu đầy nhà.
(Thiện Hữu Thiện Báo)
9 Trạng Nguyên LA HỒNG TIÊN.
Trào Minh, Niệm Am thiền sư tên tục là La Hồng Tiên, người tỉnh Giang Tây, huyện
Cát Thủy; mới sinh được 2 tháng thì cha bất hạnh qua đời, do mẹ ngậm cay nuốt đắng
nuôi nấng nên người. Hồng Tiên rất mẫn tuệ, sách chỉ đọc qua một lần là nhớ. Năm 20
tuổi thi trúng trạng nguyên, áo gấm về làng. Tuy còn trẻ đã làm quan to, nhưng ông
không khoe khoang, kiêu ngạo; làm việc rất cẩn thận, liêm chánh. Lại nhân từ nhỏ cùng
Phật có duyên ưa đọc kinh Phật nên thường nói :
-Phú quý ở nhân gian như sương ban mai; công danh như bọt nước !
Một hôm ông đọc bài Quy khứ lai từ của Đào Uyên Minh cảm khái làm một bài thơ
đại ý : Cả ngày bận rộn biết lúc nào ngưng ? Chẳng bằng về hưu mặc áo vải, ăn cơm rau
mà nhàn nhã. Chuyện đời như điện chớp, luân hồi như mây bay, sống ngày nay chẳng
biết ngày mai; huống chi làm quan gập nhiều nguy hiểm, gần vua như gần cọp, lúc nào
cũng lo lắng thắc thỏm. Một nhà no bụng thì trăm nhà oán than; nửa đời công danh thì
trăm đời oan uổng.
Do đó, ông từ quan về quê, canh tác để mưu sinh, tiêu dao tự tại. Con ông lúc đó đã
10 tuổi. Ông rất yêu con, dậy dỗ mong nó nên người. Một hôm để khảo nghiệm xem có
thông minh không, ông hỏi :
-Thiên (trời) đối với gì ?
Con hãy còn nhỏ không đáp được, bà mẹ đứng bên muốn giúp con, bèn chỉ xuống
đất (địa). Thằng nhỏ nhìn xuống thấy có bãi cứt gà, bèn đáp :
-Kê phẩn.
La trạng nguyên thấy con ngu xuẩn, thất vọng. Lại hỏi :
-Phụ (bố) đối với gì ?
Bà mẹ chỉ vào ngực mình để gà cho con.
-Phụ đối với nhũ.
-Thật là oan gia ! Cho mày đọc sách có ích gì ?
Thất vọng với đứa con, ông lặng lẽ lên cổ sơn tự xuất gia. La trạng nguyên xuất gia
rồi lấy pháp danh là Niệm Am; cả ngày ở trong bếp làm khổ hạnh tăng. Hàng ngày làm
tạp dịch, lúc rảnh thì tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, lễ Phật. Như thế trải 13 năm không
ai biết ông là trạng nguyên. Ít lâu sau khi ông xuất gia, ông nghĩ mình bỏ đi mà không lời
từ giã, bèn viết thư bảo cho vợ biết mình đã đi tu đừng chờ đợi, tìm kiếm làm gì. Phu
nhân nhận được thư, không oán hận gì, ở nhà thờ Phật, hết lòng dạy con. Đứa con 13 năm
sau cũng thi đỗ trạng nguyên. Phu nhân muốn báo tin con đỗ cho chồng hay nhưng không
biết ông ở đâu. Hồng Tiên cũng nghe tin con đỗ trạng nguyên, bèn xuống núi về nhà
thăm. Về đến nhà, đứng trước cổng. Gia nhân thấy một ông sư đứng trước cửa, nghĩ là
đến hóa duyên bèn vào trình phu nhân rồi ra bảo ông :
-Phu nhân từ bi xin hóa duyên 1 đấu gạo.
12
-Ta không muốn gạo, chỉ cần gập chủ nhân.
Người nhà vào trình phu nhân, rồi bảo :
-Phu nhân xin cúng dường thêm 1 quan.
Ông lại lắc đầu, xin giấy bút viết 1 bài thơ bảo trình cho chủ nhân.
Đấu gạo, ngàn tiền ta chẳng thâu
Mười ba năm đâu có lâu !
Con cháu tự có phúc con cháu
Chẳng vì con cháu mà làm trâu.
Sau đó bỏ đi. Phu nhân đọc thư vội chạy ra ngoài thì không thấy đâu nữa; sai người
đi tìm khắp nơi cũng không thấy. sau nhiều phen dò hỏi mới biết ông từ Cổ sơn tự, Phúc
Châu tới. Do đó, phu nhân sai con đến Phúc Châu tìm cha. Mỗi khi gập tăng nhân đều
tặng một đôi dép vì La Hồng Tiên có nốt ruồi ở chân có thể nhận ra được. Cuối cùng tìm
ra được La Hồng Tiên ở Dõng Tuyền Tự, cầu xin khổ sở mới mời được ông về nhà
phụng dưỡng. Ông không bị ăn ngon, mặc đẹp mê hoặc, mà còn cảm thấy chán ghét. Một
hôm nọ bảo con :
-Ta ở Cổ sơn tự đánh vỡ 7 cái bát. Theo lệ thì cứ đánh vỡ 1 cái phải bồi thường 10
cái. Ta còn thiếu chưa trả, ngươi có thể trả hộ ta không ?
-Dạ được !
Người con sai người chở 1 thuyền bát hảo hạng đến trả cho chùa. Ông ở nhà nửa
năm, một ngày coi dài như một năm. Đợi lúc con vắng nhà bèn bỏ đi, không trở lại chốn
cũ, sợ con tìm ra, bèn tới Phúc Kiến, tu học với Long quốc sư, cuối cùng chứng ngộ.
Theo tục truyền, cha của La Hồng Tiên đến 50 tuổi vẫn chưa có con. Một hôm nhân
đến chùa ăn chay để cầu sinh con; gập một ông tăng bệnh, bèn tặng tiền thuốc men để
chữa trị. Ông tăng đó cảm ơn nên đầu thai để trả ơn. Khi vợ lâm bồn, ông thấy một ông
tăng đi vào phòng. Ông hét lên ngăn lại, khi mở cửa vào thì nghe tiếng trẻ khóc oa oa,
còn ông tăng thì chẳng thấy đâu. Ông lấy làm lạ, cho người đi hỏi thăm tin tức mới biết
ông tăng bệnh đã qua đời.
(Nhân Quả Luân Hồi Thực Lục)
10 LÝ QUẢNG.
Lý Quảng là một vị danh tướng đời Hán, rất giỏi bắn cung, đánh giặc Hung Nô hơn
70 trận đều thắng lợi. Người Hung Nô rất sợ ông, không dám xâm phạm nữa. Võ công
hiển hách một thời, mọi người đều xưng tán là Phi Tướng Quân. Hán Văn Đế phong ông
chức Tân Kỵ Thường Thị, Hán Võ Đế phong ông Bắc Bình Thái Thú. Bộ hạ của ông
nhiều người lại được phong chức cao hơn ông. Ông không bao giờ được phong Hầu. Một
hôm ông hỏi một vị thầy tướng rất giỏi là Vương Sóc :
-Ông xem tướng tôi có được phong Hầu không ?
-Tướng quân hãy nghĩ kỹ lại có làm chuyện gì trái với lương tâm không?
-Ta có chuyện ân hận là lừa giết 800 người Khương đã đầu hàng.
- Lừa giết người đã đầu hàng là tướng quân đã gieo ác nhân, cho nên không thể được
phong Hầu.
Về sau, Lý Quảng đánh trận bị lạc đường bị vây phải tự vẫn, cháu là Lý Lăng vì đầu
hàng Hung Nô, nên mẹ và vợ đều bị giết.
(Nhân Quả Báo Ứng)
13
11 VƯƠNG THIỆU.
Vương Thiệu là 1 vị võ tướng đời Tống, chinh phạt người Khương, đánh trận thắng
lợi; mở mang bờ cõi rộng thêm một ngàn tám trăm dậm, chém giết hơn một vạn người.
Về sau, ông trở nên thất thường, hành động như người cuồng điên. Ở ngực mọc lên một
cái bướu lớn, sau vỡ ra mà chết.
(Nhân Quả Báo Ứng Lục)
12 TRẦN ĐỘC TÚ.
Trần Độc Tú sáng lập viên đảng cộng sản Trung Quốc, là đầu não trong cuộc Ngũ
Tứ vận động.
Lúc đó, Trần Độc Tú là giáo sư trường đại học Bắc Kinh. Ông chủ trương làm một
cuộc cách mạng văn hóa, lật ngược chủ trương “Trong vạn ác, dâm là đầu mối” của nền
đạo đức cũ. Không kể thân phận mình là giáo sư đại học, thường đến kỹ viện chơi. Có
thầy ấy tất có trò ấy ! Các sinh viên Bắc đại cũng thường tới chơi; thầy trò gập nhau cho
là chuyện thường. Một hôm Trần Độc Tú thấy một kỹ nữ mà mình yêu mến nhất lại thân
mật với một sinh viên hơn mình, liền nổi ghen, kéo cô gái vào phòng đánh đập. Cô gái
kêu ầm lên, các cô gái ở các phòng chung quanh đều xô lại mắng chửi :
-Đồ súc vật! Đường đường là một giáo sư đại học mà hành động vô lý, vô sỉ như vậy
hả ?
Trần Độc Tú tự thấy mình quá đáng ôm đầu lủi mất.
Ngày hôm sau, các báo đều đăng tin. Thái Nguyên Bồi và Nhược Can phải triệu tập
hội đồng giáo sư và quyết định bãi chức Trần Độc Tú.
Trần Độc Tú bị thất nghiệp. Khi đảng cộng sản nổi dậy, Trần Độc Tú không thuộc
hệ phái Lê Nin nên cũng không được trọng dụng. Quốc Dân Đảng và Cộng sản đảng đều
không dùng. Trong thời kháng chiến Trần Độc Tú sống nghèo khổ, tật bệnh, và rồi chết ở
tỉnh Tứ Xuyên.
(Nhân Quả Báo Ứng)
13 TÀO CÁN.
Linh Ẩn thiền sư kể: Lưu Ngọc Thọ, người Tô Châu làm phòng khảo quan ở Quý
Châu. Một lần đi thuyền qua Hồ Quảng, đêm nằm mộng thấy một người mặt dài bảo
ông :
-Tôi là Tào Cán ở đời Tống, trước đó dười trào Đường là người buôn bán, ngẫu
nhiên đi qua một ngôi chùa; có nghe pháp sư giảng kinh nửa buổi. Tôi có ra tiền biện trai
cung dưỡng đại chúng. Vì có thiện duyên này nên vài đời sau đều được làm chức quan
nhỏ. Đến đời Tống làm tướng biên phòng. Khi đánh Giang Châu vì dân trong thành
chống cự không chịu hàng, nên rất tức giận. Khi chiếm được thành giết rất nhiều người.
Vì sát nghiệp nặng, nên đời đời đều bị làm heo. Mấy năm trước làm heo ở nhà ông, nhờ
ơn ông không giết. Ngày nay may lại gập ông, ngày mai là ngày tôi bị giết; xin ông
thương mà giúp cho.
Lưu giật mình tỉnh mộng; nhìn xem thì nơi thuyền đậu quả có một lò sát sinh, bèn
vào xem thấy có một con heo kêu rất lớn. Ông bỏ tiền ra mua và thả vào vườn phóng
sinh. Hễ có người nào gọi Tào Cán, con heo đều vẫy đuôi như xác nhận. Chuyện này
nhiều người thấy tận mắt.
(Quả Báo Kiến Văn Lục)
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét