Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014
Tài liệu QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN doc
4
mục tiêu ngắn hạn, các phương án phát triển theo lĩnh vực, theo vùng lãnh thổ,
các giải pháp trước mắt và lâu dài, các phương án thực hiện phải được xác định
rõ trong bản quy hoạch.
2. Tính thống nhất: quy hoạch có tính định hướng chung cho sự phát
triển của ngành y tế trong tỉnh, song phải đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội chung của vùng Đông Bắc và cả nước.
3. Tính phù hợp: các chỉ tiêu trong bản quy hoạch phải phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời phải cụ thể hoá được Quy hoạch tổng
thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020.
PHẦN 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHOẺ NHÂN
DÂN TỈNH LẠNG SƠN
1. Vị thế của tỉnh Lạng Sơn
Tỉnh có điểm nút giao lưu kinh tế với nhiều tỉnh/thành trong nước, có các
đường quốc lộ số 1A, 1B, 4A, 4B, 31 và 279 đi qua, có đường biên giới chung
với Trung Quốc dài 253 km với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 9
cặp chợ biên giới. Ngoài ra còn có đường sắt liên vận quốc tế, nối Lạng Sơn với
Trung Quốc, với thủ
đô Hà Nội cũng như các tỉnh miền Trung và miền Nam.
Lạng Sơn nằm ở cửa ngõ nối Trung Quốc với các nước ASEAN, là điểm đầu
tiên của Việt Nam trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng
Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, Lạng Sơn đã trở thành điểm giao lưu,
trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của các tỉ
nh trong cả nước với Trung
Quốc, qua đó sang các nước khác thuộc vùng Trung Á và Châu Âu. Lạng Sơn
cũng sẽ là trung tâm trung chuyển quan trọng nối giữa Việt Nam với Trung
Quốc và các nước ASEAN.
Lạng Sơn còn là điểm du lịch thu hút ngày càng nhiều khách trong và ngoài
nước. Mỗi năm có gần một triệu lượt khách đến du lịch, trong đó có nhiều khách
nước ngoài. Đã hình thành một số khu du lịch như cụm văn hoá du lịch Nhị-
Tam Thanh, Thành Nhà Mạ
c, Mẫu Sơn Đang xây dựng và hoàn chỉnh cơ sở hạ
tầng các khu du lịch khác như Đèo Giang Văn Vỉ, công viên Hồ Phai Loạn. Số
khách du lịch sẽ còn tăng hơn nhiều trong các năm tới.
5
Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu cuả
nhà nước tạo điều kiện để Lạng Sơn phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là
kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ. Lạng Sơn có một vị thế chiến lược quan
trọng của vùng Đông Bắc Tổ quốc Việt Nam.
2. Các yếu tố tác động đến sức khoẻ nhân dân L
ạng Sơn
2.1. Các yếu tố về địa lý và khí hậu
2.1.1. Địa lý
Lạng Sơn có tổng diện tích là 830.521 ha (8.305,21 km
2
). Toàn tỉnh có 10
huyện và 1 thành phố với 226 xã/phường/thị trấn, trong đó có 136 xã vùng cao
(60,2%, trong số này có 68 xã thuộc chương trình 135 giai đoạn 2), 21 xã biên
giới (9,3%).
Tỉnh Lạng Sơn giáp với các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn và Thái Nguyên ở
phía Tây, với Quảng Ninh ở phía Đông, với Bắc Giang ở phía Nam, phía Bắc
tiếp giáp với Trung Quốc. Là đầu mối giao lưu với nhiều tỉnh và có đường biên
giới dài với nhiều cửa khẩu là mộ
t yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội,
đồng thời cũng là một yếu tố góp phần đáng kể tạo ra những nguy cơ đối với sức
khỏe. Đó là sự di biến động dân cư khó kiểm soát do các hoạt động kinh tế và du
lịch, đặc biệt ở khu vực biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền các
bệnh dị
ch trong đó có những bệnh nguy hiểm (như SARS, HIV/AIDS, cúm gia
cầm H5N1) và phát triển một số tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm. Việc kiểm
soát dịch bệnh qua biên giới cũng gặp không ít khó khăn do đường biên giới dài
và đi qua nhiều khu vực có địa hình hiểm trở.
Với địa hình 80% là đồi núi, mặc dù 100% xã có đường ô tô đến trung
tâm, khoảng trên 80% xã có đường ô tô đi được 4 mùa nhưng việc tiếp cận các
cơ sở y tế trong mùa m
ưa lũ vẫn là điều khó khăn đối với người dân một số xã
miền núi. Ở nhiều nơi địa bàn rộng, đường độc đạo khó đi lại nên hạn chế tiếp
cận các cơ sở y tế.
2.1.2. Khí hậu
Nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn là có khí hậu á nhiệt đới đặc thù, nền
nhiệt không quá cao. Mùa đông tương đối dài và khá lạnh (kéo dài 5 tháng với
nhiệt độ 13-18,5
0
C) là điều kiện thuận lợi cho một số bệnh phát triển, đặc biệt
các bệnh đường hô hấp như viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản, viêm
6
phổi, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người già, trẻ em nói riêng và nhân dân
nói chung. Bên cạnh đó, sự chênh lệch đáng kể về nhiệt độ giữa các mùa và các
vùng trong tỉnh cũng gây khó khăn cho công tác chuẩn bị ứng phó các dịch bệnh
theo mùa trên địa bàn toàn tỉnh.
2.2. Dân số và nguồn lao động
2.2.1. Dân số
Dân số tỉnh Lạng Sơn năm 2007 là 751.818 người. Mật độ dân số trung
bình toàn tỉ
nh là 90 người/km
2
, phân bố rất không đồng đều giữa các huyện;
thành phố Lạng Sơn có mật độ dân số cao nhất (1.028 người/km
2
), 4 huyện Văn
Quan, Cao Lộc, Chi Lăng và Hữu Lũng có mật độ trên 100 người/km
2
, huyện
Đình Lập có mật độ dân số thấp nhất tỉnh (24 người/km
2
). Dân cư thưa thớt
cùng với địa bàn rộng tạo ra những trở ngại nhất định đối với việc xây dựng các
cơ sở KCB lớn, tập trung được một số TTBYT hiện đại. Điều này cũng gây ra
những hạn chế về khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của nhân dân địa phương.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tăng nh
ẹ trong những năm gần đây, từ 9,9‰
năm 2002 đến 11,98‰ năm 2006. Gần 80% dân số sống ở khu vực nông thôn.
Tỷ lệ dân số thành thị tăng chậm.
Toàn tỉnh có 7 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống. Người Nùng chiếm tỷ lệ
cao nhất (43%), tiếp theo là người Tày (35,9%), người Kinh (16,53%) và người
Dao (3,47%). Dân tộc Hoa, Sán Chay và một số dân tộc khác chiếm khoảng 2%.
Với tỷ lệ người dân tộc cao, một bộ phậ
n không nhỏ dân cư của tỉnh vẫn duy trì
các các phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sức khỏe. Cũng như nhiều
tỉnh miền núi khác, việc vận động nhân dân thực hiện các nếp sống văn hóa mới,
phát động các phòng trào để người dân tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản
thân, gia đình và cộng đồng là một nhiệm vụ khó khăn mà ngành y tế Lạng Sơn
phải hoàn thành.
2.2.2. Lao động và việc làm
Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh tăng từ 58,3% năm 2002 lên
63,76% năm 2006. Tỷ lệ lao động thành thị thất nghiệp là 4,7%, không khác biệt
nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước (4,3%).
Lạng Sơn đã quan tâm và thực hiện tốt các chính sách xã hội, đời sống của
các tầng lớp nhân dân được cải thiện, GDP/người tăng từ 3,805 triệu
đồng năm
7
2002 lên 7,99 triệu đồng năm 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao (25,16%)
so với tỷ lệ chung của vùng Đông Bắc (22,2%). Số đối tượng thuộc diện bảo trợ
xã hội được hưởng chế độ ưu đãi trong CSSK của tỉnh chiếm tỷ lệ đáng kể.
Tỷ lệ lao động thiếu việc làm còn cao, thu nhập của người lao động, nhất
là lao động nông nghiệp thấp là m
ột trong những nguyên nhân hạn chế khả năng
sử dụng các dịch vụ y tế, đặc biệt dịch vụ chất lượng cao.
2.3. Kết cấu hạ tầng
2.3.1. Giao thông
Giao thông đường bộ và đường sắt có vai trò quan trọng trong mạng lưới
giao thông toàn tỉnh. Giao thông đường sông không phát triển vì địa hình dốc, ít
sông ngòi, nhiều thác ghềnh và nước cạn.
Mạng lưới đường bộ: bao gồm các đường quốc lộ, tuy
ến tỉnh lộ, huyện lộ
và các tuyến đường xã với tổng chiều dài 3.657 km, đạt tỷ lệ 4,95 km/1.000 dân.
Về quốc lộ, có 7 tuyến hoặc đoạn tuyến với tổng chiều dài hơn 600 km, là
đường cấp V đến cấp III miền núi. Đường tỉnh có 34 tuyến với tổng chiều dài
gần 780 km với nhiều cấp đường khác nhau. Đường huyện có 60 tuyến gồm
nhiều cấp khác nhau với tổ
ng chiều dài khoảng 660 km. Đường xã có chiều dài
hơn 1.400 km, chủ yếu là đường đất (gần 90%), hơn 80% số xã có đường ô tô
đến trung tâm đi được cả 4 mùa.
Đường sắt: Lạng Sơn có 2 tuyến đường sắt đi qua với tổng chiều dài 123
km trong đó tuyến liên vận quốc tế Hà Nội – Đồng Đăng dài 92 km và tuyến
Mai Pha-Na Dương dài 31km.
Hệ thống giao thông phát triển thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, góp
phầ
n nâng cao khả năng tiếp cận các cơ sở KCB hiện đại tại các thành phố lớn như
Hà Nội, giảm bớt những khó khăn trong việc cấp cứu và vận chuyển cấp cứu các
bệnh nhân, nạn nhân. Mặt khác, đây cũng là một nguyên nhân làm tai nạn giao thông
gia tăng hàng năm.
2.3.2. Hệ thống cấp và thoát nước
Hệ thống các công trình cấp nước đã được quan tâm đầu tư. Năm 2006 có
62,5% dân s
ố (78% dân số thành thị và 59% dân số nông thôn) được sử dụng
nước sạch. Các nguồn nước phổ biến là nước máng (35,6%), nước giếng đào
(35,3%), nước giếng khoan (23%), nước mưa và nước suối (trên 6%). Hệ thống
8
cấp nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống, hầu hết công
suất các công trình cấp nước còn thấp, các công trình nước sạch nông thôn còn
thiếu. Chất lượng nước chưa đảm bảo, kết quả xét nghiệm mẫu nước từ các
nguồn này năm 2007 cho thấy chưa đến 10% mẫu đạt chuẩn vệ sinh.
Hệ thống thoát nước thải: Hàng ngày toàn tỉnh có hàng v
ạn m
3
nước thải
được thoát ra từ các khu dân cư, khu công nghiệp, dịch vụ và bệnh viện chưa
qua xử lý, cùng với hệ thống cống rãnh thóat nước chưa có hoặc đã xuống cấp
gây ô nhiễm môi trường.
2.3.3. Thông tin liên lạc
Từ cuối năm 2005, 100% số xã phường, thị trấn đã có điện thoại.
138/207 xã có điểm bưu điện văn hóa; 99,5% xã có báo đọc trong ngày; 100%
huyện đã được ph
ủ sóng điện thoại di động và có dịch vụ internet tốc độ cao.
Đây là một tiền đề thuận lợi giúp người dân tiếp cận dễ dàng với các thông tin
về giáo dục sức khoẻ và có thể liên lạc với các cơ sở y tế khi cần, đặc biệt khi có
tai nạn hoặc thảm hoạ xảy ra.
2.3.4. Hệ thống điện lưới quốc gia
Hệ thống đi
ện lưới quốc gia ngày càng mở rộng. Trên 95% số xã và hơn
80% số hộ đã được sử dụng điện. Ở một số xã vùng xa, nơi gần sông suối, nhân
dân sử dụng thuỷ điện nhỏ để phục vụ đời sống.
2.4. Môi trường
Vấn đề xử lý chất thải rắn, chất thải bệnh viện chưa được triệt để
gây ô
nhiễm môi trường sống của cộng đồng dân cư. Việc kiểm soát chất thải môi
trường nói chung (phế liệu rắn, hoá chất lỏng, khí độc, bụi, tiếng ồn) chưa tốt
đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm nảy sinh các bệnh về tiêu hoá, hô hấp Ô
nhiễm môi trường thực sự là một thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và công tác chăm sóc, bảo vệ sức kh
ỏe nhân dân Lạng Sơn hiện nay và trong
thời gian tới.
Sự phát triển giao lưu về kinh tế, văn hoá, du lịch một mặt là thế mạnh
của Lạng Sơn, mặt khác lại gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường
xã hội, là cơ hội thuận lợi để phát triển những lối sống không có lợi cho sức
khoẻ như nghiện, chích, mại dâm
9
2.5. Kinh tế - văn hoá - xã hội
2.5.1. Kinh tế
Nền kinh tế liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân hàng
năm 10,04% trong giai đoạn 2001-2005, đạt mục tiêu đề ra và cao hơn tốc độ
chung của cả nước 1,33 lần, trong đó công nghiệp - xây dựng gấp 1,86 lần và
dịch vụ gấp 1,93 lần. Tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) năm 2005 tăng 1,61 lần so
với năm 2000, đạt 2.807 t
ỷ đồng (giá so sánh năm 1994). GDP bình quân đầu
người năm 2007 đạt 7,99 triệu đồng.
Là một tỉnh nông nghiệp Lạng Sơn đã có bước chuyển dịch cơ cấu khá
mạnh mẽ trong hơn 10 năm qua theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành thương mại
- dịch vụ và ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm
nghiệp trong GDP của tỉnh.
Đời sống của nhân dân được cải thiện. T
ỉnh đã quan tâm nhiều đến các
vùng đặc biệt khó khăn để đảm bảo ổn định xã hội, từng bước xoá đói, giảm
nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào vùng biên giới, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn.
Tuy nhiên, những thay đổi hiện mới tập trung nhiều ở khu vực thành thị,
đời sống của nhân dân vùng sâu, vùng xa và các điều kiện kinh tế-xã hội ở các
khu vực này vẫn còn rất khó khăn. Đây chính là một thách th
ức lớn đối với việc
cải thiện tình trạng sức khoẻ và nâng cao tính công bằng trong CSSK của ngành
y tế Lạng Sơn.
2.5.2. Văn hoá- xã hội
2.5.2.1. Giáo dục
85,4% số xã/phường của tỉnh đã đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
5/11 huyện và thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ năm
2005. So với các tỉnh miền núi của vùng Đông Bắc, đây là một kết quả khá cao
tạo cơ sở tốt cho việc tiếp thu và nâng cao kiến thức CSSK cũng như thay đổi
hành vi theo hướng có lợi cho sức khoẻ
.
2.5.2.2. Văn hoá
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở phát
triển mạnh mẽ góp phần tạo những thói quen có lợi có sức khoẻ. Mặc dù vậy,
10
vẫn còn nhiều tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan trong một bộ phận dân cư, ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ.
Công tác phát thanh - truyền hình, truyền thanh đã phủ sóng toàn tỉnh.
Tỉnh đã đáp ứng được nhu cầu thông tin cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh,
100% số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam và trên 70% số hộ được xem
truyền hình.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát tri
ển. 100% trường
trung học phổ thông đưa chương trình giảng dạy thể dục thể thao vào nội khóa,
85% trường trung học cơ sở và 50% trường tiểu học có giáo viên hướng dẫn
luyện tập TDTT.
3. Những thuận lợi và thách thức đối với ngành Y tế Lạng Sơn
3.1. Thuận lợi
- Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền của tỉnh Lạng Sơn luôn luôn quan
tâm và có chính sách phát triển toàn diện, phát tri
ển kinh tế đi đôi với nâng cao
đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, đặc biệt
là vấn đề nâng cao sức khoẻ.
- Vị trí địa lý thuận lợi của Lạng Sơn cùng với sự phát triển của hệ thống
đường giao thông tạo cho nhân dân Lạng Sơn khả năng tiếp cận dễ dàng các cơ
cở y tế, trong đó có những cơ sở hi
ện đại tại các thành phố lớn trong nước như
Hà Nội và cả nước ngoài (Nam Ninh, Trung Quốc). Sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau
giữa các cơ sở y tế của tỉnh với các cơ sở đầu ngành ở tuyến trung ương và một
số tỉnh lân cận trong các hoạt động KCB, phòng bệnh, chuyển tuyến, cấp cứu,
đào tạo, trao đổi kinh nghiệm cũng thuận lợi nhờ thế m
ạnh này.
- Những thành tựu đã đạt được về kinh tế- xã hội trong những năm qua
là nền tảng vững chắc, tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế-xã hội
trong các năm tới. Khả năng đầu tư các nguồn lực (vốn, cơ sở, nhân lực) cho y tế
sẽ cao hơn cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện về mặt vă
n
hoá-xã hội của tỉnh.
- Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước (như thực hiện chương trình xoá
đói giảm nghèo của Chính phủ, cấp thẻ BHYT cho người nghèo) tạo điều kiện
cho cho các đối tượng chính sách được hưởng những chăm sóc cơ bản, thu hẹp
11
dần khoảng cách giữa các nhóm dân cư trong tỉnh, thực hiện công bằng trong
KCB.
3.2. Thách thức
- Tỷ lệ dân số nông thôn cao, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ
lao động qua đào tạo thấp. Sự chênh lệch về phát triển kinh tế, xã hội và mức
sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn gây không ít khó khăn trong
việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ giữa 2 khu vực này. T
ỷ lệ người dân
tộc cao cùng với sự tồn tại của một số tập quán lạc hậu, có hại cho sức khỏe
(cúng bái khi ốm, uống nhiều rượu ) cũng là một thách thức đáng kể không thể
sớm giải quyết được.
- Môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm trước sự phát triển nhanh chóng
của các ngành công nghiệp, du lịch và cả đô thị hoá tại Lạng Sơn. Khai thác tài
nguyên chư
a được quản lý chặt chẽ đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường
sống. Việc xử lý rác thải công nghiệp và rác thải bệnh viện chưa được thoả
đáng. Một số bệnh nghề nghiệp và bệnh do tệ nạn xã hội và lối sống hiện đại
ngày càng có xu hướng tăng cao và khó kiểm soát.
- Bên cạnh những mặt tích cực của phát triển kinh tế, du lịch, ngành y tế
Lạng Sơn cũng phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh do sự giao lưu
của du khách đem lại, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm mới xuất hiện và các
bệnh xã hội. Mặt khác, nhu cầu CSSK với chất lượng cao cho khách du lịch
hoặc những người đến Lạng Sơn tham gia các ho
ạt động kinh tế cũng đòi hỏi
ngành y tế của tỉnh những nỗ lực cao để đáp ứng.
- Thời tiết khí hậu diễn biến khó lường (như mưa lũ, rét đậm) ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khỏe của người dân cũng như các hoạt động CSSK.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỨC KHỎE NHÂN DÂN
LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2002-2007
1. Các chỉ số sức khoẻ
Sức khoẻ nhân dân Lạng Sơn đã có những cải thiện rõ rệt, thể hiện qua
các chỉ số cơ bản dưới đây:
1.1. Tuổi thọ bình quân lúc sinh: 70,2 năm (năm 2002), cao hơn mức
trung bình của vùng Đông Bắc (69,1) nhưng còn thấp hơn trung bình của cả
12
nước là 71,1 trong cùng thời gian (theo Điều tra biến động dân số và KHHGĐ,
2002 của Tổng cục Thống kê).
1.2. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi: 11,46‰ năm 2007 (123 ca tử vong
trên 10.730 trẻ đẻ sống), giảm nhiều so với năm 2006 (25‰ ; theo Niên giám
thống kê y tế 2006 của BYT, trung bình của cả nước và vùng Đông Bắc năm
2006 là 16‰ và 24‰).
1.3. Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi: 14,26‰ (2007).
1.4. Tỷ suất ch
ết mẹ: 37,27/100.000. (4 ca/10.730 trẻ đẻ sống, năm 2007).
Mục tiêu quốc gia đến năm 2010 là 70/100.000.
1.5. Tỷ lệ trẻ mới đẻ nặng dưới 2500 g: 3,1% (năm 2007).
1.6. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (cân nặng/tuổi): 25,5% năm
2007, cao hơn trung bình của cả nước năm 2006 (23,4%).
Ngoài các chỉ số cơ bản trên đây, nhiều chỉ số khác đã được cải thiện,
một số đạ
t được ở mức cao hoặc rất cao trong các năm qua. Dưới đây là một số
chỉ số (theo các báo cáo của SYT Lạng Sơn):
- Tỷ lệ trẻ em tiêm đủ 6 loại vacxin luôn đạt 98-99%.
- Tỷ lệ trẻ em 6-36 tháng uống Vitamin A đạt 99-99,5%.
- Tỷ lệ phụ nữ đẻ được tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi tăng từ 84% năm
2002 lên 94,3% năm 2007. Tỷ lệ phụ nữ có thai khám thai trên 3 lần đúng 3 kỳ
là 69,2%; 93,5% phụ n
ữ đẻ được CBYT đỡ.
- Tỷ lệ trẻ em 8-10 tuổi mắc bướu cổ giảm từ 7,2% năm 2002 xuống
2,93% năm 2007.
- Tỷ lệ mắc sốt rét/100.000 dân giảm từ 182 năm 2002 xuống 69,53 năm
2006, thấp hơn nhiều so với vùng Đông Bắc (163,86) và cả nước (108,89).
- Tỷ lệ lưu hành phong đạt <1/50.000 từ nhiều năm qua.
- Tỷ lệ giường bệnh trên 10.000 dân: 16,42 (2007). Tỷ lệ này của cả
nước
là 23,49 trong đó có 17,7 giường quốc lập (2006).
- Số bác sĩ trên 10.000 dân: 7 (cả nước: 6,23).
- Tỷ lệ TYT có bác sĩ: 71%.
- Tỷ lệ xã có YSSN hoặc NHS: 100% (cả nước: 93,3%).
- Tỷ lệ thôn bản có NVYT: 94,7% (cả nước: 84,4%; Đông Bắc: 95,6%).
- Tỷ lệ TYT xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã năm 2007: 77,5%.
Phần lớn các chỉ số sức khoẻ của Lạng Sơn tương tự như mức chung của
vùng
Đông Bắc. So với cả nước, có chỉ số cơ bản đã vượt cả mục tiêu quốc gia
đến năm 2010 như tỷ suất chết mẹ. Nhiều chỉ số khác cũng đạt được ở mức cao
13
hơn trung bình của cả nước hoặc vùng Đông Bắc như tỷ lệ trẻ mới đẻ nặng dưới
2.500g, tỷ lệ mắc sốt rét/100.000 dân, tỷ lệ TYT xã đạt chuẩn quốc gia Tuy
nhiên, có những chỉ số còn thấp hơn so với trung bình của cả nước như tỷ lệ
SDD trẻ em dưới 5 tuổi, số giường bệnh/10.000 dân.
2. Mô hình bệnh tật và tử vong ở L
ạng Sơn
2.1. Mười bệnh mắc cao nhất
Một nghiên cứu của BVĐK trung tâm Lạng Sơn về 79.684 bệnh nhân
điều trị nội trú tại bệnh viện này trong 5 năm 2000-2004 cho thấy 10 bệnh mắc
cao nhất xếp theo hệ cơ quan và tỷ lệ tương ứng trong số 79.684 bệnh nhân trên
là:
1. Bệnh hệ tiêu hoá (16,55%)
2. Bệnh lý chấn thương (9,89%)
3. Bệnh hệ tuần hoàn (7,89%)
4. Bệnh hệ hô hấp (4,82%)
5. Bệnh hệ tiết niệu (4,79%)
6. Bệnh tai mũi h
ọng (3,27%)
7. Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng (2,79%)
8. Bệnh lý về mắt (2,45%)
9. Bệnh lý về răng hàm mặt (1,72%)
10. Bệnh lý ngộ độc (1,72%)
(Nguồn số liệu: Báo cáo Nghiên cứu một số đặc điểm tình hình bệnh tật bệnh
nhân điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn từ năm 2000 đến năm
2004 của BVĐK trung tâm tỉnh Lạng Sơn, 2005).
Theo số
liệu của SYT tỉnh, các bệnh có số mắc cao/100.000 dân là: viêm
họng và viêm phế quản cấp, viêm phế quản và tiểu phế quản, tai nạn giao thông,
các bệnh viêm phổi, tiêu chảy-viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm
khuẩn Những bệnh truyền nhiễm có số mắc cao là cúm, tiêu chảy, dại/nghi
dại (Phụ lục 1)
Số liệu của các nguồn trên đều cho thấy các bệnh nhiễm trùng vẫn phổ
biế
n tại Lạng Sơn trong các năm gần đây. Nhiều bệnh có xu hướng tăng về số ca
mắc như cúm, viêm phổi, hội chứng lỵ.
Các số liệu thống kê của Sở Y tế và nghiên cứu trên cũng cho thấy một số
bệnh không nhiễm trùng (bệnh hệ tuần hoàn, hệ thần kinh) có xu hướng phát
triển như suy tim, chảy máu não, tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt và hoang
tưởng. Tai nạn giao thông tă
ng đáng kể, riêng năm 2006 có 3.437 trường hợp,
tăng gần 27% so với năm 2005 và tăng 77% so với năm 2002.
Về HIV/AIDS: Lạng sơn là tỉnh đứng thứ 10 trong 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm
HIV/100.000 dân cao nhất toàn quốc, chủ yếu ở nhóm nghiện hút ma tuý và mại
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét