Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

121 Một số giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê của tỉnh Đắk Lắk đến năm 2010

- 5 -

quốc gia khác. Sự khác biệt này là cơ sở làm nảy sinh ra sự trao đổi mậu dòch quốc tế. Nó
cho phép mỗi quốc gia có thể tập trung chuyên môn hóa sản xuất hoàn toàn vào lọai sản
phẩm có chi phí cơ hội thấp nhất, sau đó tiến hành trao đổi hành hóa. Điều này sẽ làm lợi
thế kinh tế của từng quốc gia và toàn thế giới đều nâng cao.
Luận điểm này cho rằng các nước có qui mô nền kinh tế nhỏ bé vẫn có thể chuyên
môn hóa sản xuất hoàn toàn các sản phẩm có lợi thế so sánh, thông qua trao đổi mậu dòch
quốc tế vẫn nâng cao hiệu quả nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, họ sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn do nền kinh tế bò phụ thuộc nhiều vào ngoại thương trong khi giá cả và tỷ giá trao đổi
hàng hóa do các nước có qui mô sản xuất lớn quyết đònh.
1.1.1.5 Lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế của Heckscher – Ohlin:
Trong thế kỷ 20, nhiều lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế lần lượt xuất hiện,
nhằm khắc phục các nhược điểm của những lý thuyết cổ điển, nổi bật là tác phẩm “Thương
mại liên khu vực và quốc tế” của 2 nhà kinh tế học Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin
xuất bản năm 1933. Lý thuyết này cho rằng để làm ra sản phẩm cần kết hợp các yếu tố
sản xuất theo những tỷ lệ cân đối khác nhau nhất đònh. Trong điều kiện của nền kinh tế mở,
mỗi nước sẽ hướng đến chuyên môn hóa sản xuất vào những ngành mà nước mình có thể
sử dụng các yếu tố sản xuất một cách thuận lợi nhất, có nguồn cung cấp đồi dào, chi phí rẻ,
chất lượng hàng hóa sản xuất ra tốt hơn các nước khác.
Như vậy, theo qui luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất thì sự dư thừa hay khan hiếm
các yếu tố sản xuất quyết đònh đến mô hình thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Một quốc
gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà
quốc gia đó dư thừa tương đối và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc
gia đó khan hiếm tương đối, một quốc gia hoàn toàn có thể dựa vào các lợi thế so sánh của
mình để xây dựng chiến lược phát triển cho phù hợp. Tuy nhiên trên thực tế cần phải
nghiên cứu khai thác các lợi thế so sánh của mình thông qua hoạt động thương mại quốc tế
sao cho hợp lý và hiệu quả nhất trong từng giai đoạn phát triển kinh tế để duy trì và phát
huy lợi thế so sánh một các triệt để nhất, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như
Việt Nam.
1.1.1.6 Lợi thế cạnh tranh quốc gia – “Mô hình kim cương của Porter”
Từ trước đến nay, năng lực cạnh tranh quốc tế của một quốc gia thường được giải thích
bằng lý thuyết thương mại quốc tế bắt nguồn từ A.Smith. Tuy nhiên, nền kinh tế toàn cầu
ngày nay quá phức tạp nên khó giải thích đầy đủ bằng những lý thuyết cũ được. Năm 1990,
Giáo sư Micheal Porter của trường Harvard đã giới thiệu một lý thuyết cạnh tranh mới, mô
hình Porter. Ông phân biệt mô hình của mình với lý thuyết thương mại truyền thống ở chỗ sự
trù phú của một quốc gia không phải được thừa hưởng từ tài nguyên thiên nhiên mà chính là
- 6 -

nhờ vào những quyết đònh mang tính chiến lược. Theo Porter, một quốc gia đạt được lợi thế
cạnh tranh nếu những Doanh nghiệp của nước này xây dựng được năng lực cạnh tranh.
Doanh nghiệp sẽ có tính cạnh tranh thông qua những hoạt động đổi mới sáng tạo, bao gồm
cải tiến công nghệ trong qui trình sản xuất kinh doanh.
Sơ đồ I.1: MÔ HÌNH KIM CNG CỦA PORTER







Nghiên cứu của Michael Porter nêu bốn thuộc tính của một quốc gia hình thành môi
trường theo đó các Doanh nghiệp đòa phương cạnh tranh, và những thuộc tính này khuyến
khích hoặc kìm hãm việc tạo nên lợi thế cạnh tranh. Bốn thuộc tính đó là:
 Yếu tố thâm dụng (factor endowment): vò thế của quốc gia theo đó là những yếu tố đầu
vào cần thiết cho qui trình sản xuất như lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn và
cơ sở hạ tầng. Trong đó, những yếu tố sản xuất “chủ yếu” như lao động có tay nghề, vốn
và cơ sở hạ tầng là những yếu tố được tạo ra chứ không phải thừa hưởng, cần phải được
đầu tư và duy trì mạnh mẽ vì chúng khó sao chép bắt chước và có giá trò dẫn đến lợi thế
cạnh tranh. Những yếu tố thông dụng không xây dụng lợi thế cạnh tranh bền vững được.
 Điều kiện nhu cầu (demand conditions): bản chất của nhu cầu nước nhà trong ngành
công nhiệp sản phẩm hay dòch vụ. Thò trường nội đòa khó tính và tinh tế sẽ là một nhân
tố quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh.
 Liên kết và hỗ trợ công nghiệp (relating and supporting industies): sự hiện diện hay vắng
mặt trong một quốc gia của các nhà cung cấp và những ngành công nghiệp liên quan là
sự cạnh tranh có tính quốc tế.
 Chiến lược Doanh nghiệp, cấu trúc và sự cạnh tranh (firm stratergy, structure and rivalry):
điều kiện kiểm soát trong một quốc gia theo đó các Doanh nghiệp hình thành, tổ chức,
quản lý và bản chất cạnh tranh nội đòa.
Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cơ hội và vai trò của chính phủ trong mô hình.
Cơ hội
Chiến lược doanh
nghiệp, cấu trúc
và sự cạnh tranh
Liên kết và hỗ
trợ công
nghiệp
Điều kiện nhu
cầu
Yếu tố thâm
dụng
Chính phủ
- 7 -

- Những sự kiện ngẫu nhiên như : đột phá hay phát minh trong công nghệ; chiến tranh,
thiên tai; biến động tỷ giá hối đoái, biến dộng các yếu tố đầu vào, nhu cầu hay sở thích
người tiêu dùng có thể có lợi hay có hại cho vò thế cạnh tranh của Doanh nghiệp.
- Ông cho rằng “vai trò đúng đắn của chính phủ phải là một tác nhân hay yêu cầu; chính
phủ phải khuyến khích hay cả thúc đẩy Doanh nghiệp tăng cường động cơ và xây dựng vò
thế cạnh tranh cao hơn…”. Chính phủ có thể tác động đến “4 thuộc tính” trên thông qua
các biện pháp như : tài trợ trực tiếp hay gián tiếp cho Doanh nghiệp; áp dụng các luật
thuế; qui đònh hay không qui đònh đối với thò trường vốn và kiểm soát hối đoái; chính sách
giáo dục, dạy nghề; những tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm, kể cả những qui đònh về
môi trường; chính phủ mua sắm hàng hoá/dòch vụ; ban hành luật chống độc quyền. Quan
hệ hợp tác giữa Doanh nghiệp và chính phủ sẽ không hiệu quả nếu chỉ hợp tác từng
Doanh nghiệp riêng lẻ. Muốn mối quan hệ này đạt được hiệu quả tăng cường sức cạnh
tranh, các Doanh nghiệp cần phải hợp tác liên kết với nhau trong ngành, chú ý đến giải
pháp toàn diện với tầm nhìn chiến lược, ưu tiên lựa chọn những lónh vực quan tâm và tăng
cường chất lượng đối thoại giữa chính phủ và Doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu và phân
tích.
1.1.2. Đặc trưng cạnh tranh của một ngành trong kinh tế thò trường:
1.1.2.1 Môi trường cạnh tranh trong một ngành – “Mô hình 5 áp lực cạnh tranh”
Sơ đồ I.2 : MÔ HÌNH NĂM ÁP LỰC CẠNH TRANH

Theo Michael Porter, bản chất và mức độ cạnh tranh trong một ngành xoay quanh 5
lực lượng, tạo thành bối cảnh cạnh tranh của các Doanh nghiệp. Ông cho rằng bản chất của
việc xây dựng chiến lược là để thích nghi với cạnh tranh. Mục đích của doanh nghiệp là tìm
kiếm những phần nào trong ngành mà họ có thể tự bảo vệ mình tốt nhất trước những lực
lượng cạnh tranh hoặc có thể tác động tới các lực lượng ấy theo cách có lợi cho mình.
1.1.2.2 Các loại hình cạnh tranh chính
Sức mạnh thương
lượng của người bán
Sức mạnh thương
lượng của người
Những người
nhập ngành
Những sản
phẩm thay thế
Những người
mua
Những người
cung cấp
Những nhà cạnh tranh
trong ngành

Mức độ cạnh tranh trong
ngành
Đe dọa của những người nhập ngành
Đe dọa của sản phẩm thay thế
- 8 -

Sự phát triển nhanh chóng các mối quan hệ kinh tế thương mại và chu chuyển trên
phạm vi quốc tế và khu vực đã làm cho thò trường gần như là một thể thống nhất giữa các
quốc gia. Mức độ cạnh tranh không còn bó buộc trong phạm vi của một quốc gia, thò trường
lúc này đã trở thành thò trường quốc tế và là nơi hội tụ các đối thủ cạnh tranh không hề
châm trước hoặc khoan nhượng. Hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói
riêng là cuộc cạnh tranh diễn ra giữa các chủ thể tham gia trên thò trường. Căn cứ vào nội
dung các lý thuyết về thương mại quốc tế, đặc biệt là “mô hình 5 áp lực cạnh tranh” của
Michael Porter có thể rút ra 3 loại hình cạnh tranh chính sau đây:
Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh theo qui luật mua rẻ-bán đắt.
Người mua muốn mua rẻ, người bán muốn bán được giá cao. Sự cạnh tranh diễn ra dưới tác
động của nhiều áp lực từ mỗi bên cho đến khi đạt được sự cân bằng chung về giá cả, lợi
ích.
Cạnh tranh giữa các người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo qui luật cung cầu. Khi
hàng hóa khan hiếm sẽ làm cung nhỏ hơn cầu, cuộc cạnh tranh giữa các người mua sẽ trở
nên gay gắt và giá cả được đẩy lên ở mức cao, lợi thế lúc này thuộc về người bán. Ngược
lại, khi cầu thấp hơn cung, mức cạnh tranh sẽ không cao, lợi thế thuộc về người mua nào trả
giá tốt hơn.
Cạnh tranh giữa các người bán: là cuộc cạnh tranh cơ bản nhất trên thò trường. Nó được
thực hiện nhằm tranh giành các lợi ích. Trong nền kinh tế thò trường, cuộc cạnh tranh này
ngày càng quyết liệt, kết quả cuối cùng phù hợp với qui luật đào thải.
1.1.2.3 Các chiến lược cạnh tranh cơ bản:
Cạnh tranh trong một ngành trên thò trường quốc tế thực chất là sự cạnh tranh giữa
các thành phần tham gia vào ngành dưới tác động của các yếu tố ngoại vi, các tổ chức,
Doanh nghiệp chính là các chủ thể tham gia vào cuộc cạnh tranh này. Bàn về năng lực
phân biệt và lợi thế cạnh tranh hay những điểm mạnh và những điểm yếu của một ngành
tức là nói tới sự so sánh các mặt, các hoạt động của chủ thể so với các đối thủ cạnh tranh
trong ngành đó. Trên cở sở này, chiến lược cạnh tranh của ngành có thể coi là một chương
trình hành động tổng quát của các tổ chức, Doanh nghiệp trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế
cạnh tranh của mình trong quá trình giành ưu thế so với đối thủ để thực hiện một số mục
tiêu cụ thể. Bí quyết thành công trong cạnh tranh là phải biết tập hợp các biện pháp giải
quyết sự thích nghi của môi trường bên trong (các nguồn lực) và sự thay đổi thường xuyên
của môi trường bên ngoài (khách hàng, đối thủ cạnh tranh, tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
…). Trong kinh doanh có nhiều phương thức thực hiện chiến lược cạnh tranh. Tuy nhiên tạm
thời có thể phân ra 3 loại chiến lược cạnh tranh cơ bản mà các tổ chức có thể áp dụng kết
hợp hoặc riêng lẻ:
- 9 -

 Chiến lược dẫn đầu hạ giá thành: là loại chiến lược ngày càng phổ biến. Các tổ chức
giành ưu thế trước đối thủ bằng cách áp dụng hàng loạt các biện pháp kinh tế để đạt
được mức chi phí sản xuất thấp nhất. Chiến lược này đòi hỏi các tổ chức khi xây dựng
điều kiện vật chất phải xem xét kết hợp giữa yếu tố qui mô và tính hiệu quả, nó cho
phép tổ chức có giá thành thấp hơn. Để đạt được mục tiêu, tổ chức cần chú ý tăng
cường các biện pháp kiểm soát nhằm tiết kiệm chi phí nhưng không thể xem nhẹ các
yếu tố chất lượng của hàng hóa/dòch vụ hoặc các giá trò đã cam kết với khách hàng.
 Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm: mục tiêu của chiến lược là làm khác biệt hóa sản
phẩm, dòch vụ. Các sự khác biệt này phải được khách hàng chấp nhận về các đặc tính
ưu thế mà đối thủ cạnh tranh không có, không theo kòp hoặc bắt chước được. Các
phương pháp khác biệt hoá sản phẩm được biểu hiện như: sự đòa danh đặc biệt, điển
hình về thiết kế, kiểu dáng, công nghệ sản xuất tiên tiến, các dòch vụ kèm theo, mạng
lưới phân phối, … Việc đầu tư tạo sự khác biệt hoá sản phẩm thường khá cao, các tổ
chức cần phải chú ý vào yếu tố chi phí. Ngoài ra, chiến lược này đôi khi lại loại trừ khả
năng nâng cao thò phần, bởi tính riêng biệt thường không đi đôi với việc phát triển mở
rộng thò trường.
 Chiến lược trọng tâm hóa sản phẩm: chủ thể tập trung cung ứng các sản phẩm, dòch
vụ cho một hoặc một nhóm khách hành cụ thể. Chiến lược này chủ yếu sử dụng cho các
tổ chức qui mô vừa và nhỏ hoặc các đơn vò thành viên của các tổ chức có qui mô lớn vì
thường chỉ áp dụng được trong các thò trường có sức ép cạnh tranh yếu, ít sự tấn công
của đồi thủ, qui mô thò trường thường nhỏ.
1.2 TÌNH HÌNH THƯƠNG MẠI CÀ PHÊ THẾ GIỚI VÀ BỐI CẢNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
Hoạt động thương mại quốc tế của một ngành hay một quốc gia ngoài việc chòu sự
quản lý và chi phối của các chính sách về ngoại thương của Chính phủ thường được xây
dựng trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, mà các chính sách này còn liên hệ trực tiếp với thò
trường khu vực và thế giới. Để hiểu rõ hoạt động thương mại cà phê, chúng ta cần xem xét
thực trạng và những diễn biến thương mại của ngành cà phê thế giới, các bối cảnh kinh tế
và sự tác động của chính sách ngoại thương của Việt Nam lên hoạt động xuất khẩu cà phê.
1.2.1 Thực trạng ngành cà phê thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất của ngành cà phê thế giới (phụ lục 1)
Hiện trên thế giới có khoảng 75 nước có điều kiện phù hợp để trồng cà phê, với diện
tích tổng cộng khoảng 12 triệu ha, đa số diện tích thuộc sở hữu tư nhân. Mười quốc gia có
diện tích trồng và sản xuất cà phê lớn nhất thế giới (bao gồm 2 loại cà phê chính là Arabica
và Robusta) chiếm khoảng 70% diện tích và gần 80% sản lượng cà phê toàn cầu.
- 10 -

Bảng 1.1: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÀ PHÊ CỦA 10 QUỐC GIA HÀNG ĐẦU
Nước
Trung bình
84 - 88
26,484 602 11,370 6,163 2,685 5,107 2,890 4,288 2,742 2,787
89 - 93
26,384 1,813 14,103 7,133 2,742 4,575 3,619 3,281 2,814 2,261
94 - 98
26,109 5,412 11,996 3,752 3,752 4,834 4,285 3,311 2,866 3,157
99 - 03 35,048 12,472 11,079 6,179 4,839 4,757 4,299 3,933 3,611 3,096
Brazil Vietnam
Colom
bia
Indone
sia
Ethiopia Ugandan Độ Mexico
Guate
mala
Bờ Biển
Ngà
ĐVT: sản lượng = 1.000 bao (60kg/bao) (Nguồn: Tổng hợp số liệu của ICO)
Năng xuất bình quân trên thế giới trong những thập niên 80 trở về trước không cao,
trung bình 600-700 kg/ha. Từ giữa thập niên 90 đến nay, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ
thuật vào lai tạo giống, canh tác, … nên từng bước đã đưa năng suất tăng lên đáng kể, năng
suất bình quân của thế giới đã đạt xấp xỉ 1 tấn/ha kể từ năm 1999.
Bảng 1.2: NĂNG SUẤT VÀ CHI PHÍ SẢN XUẤT CÀ PHÊ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
Quốc Gia Bờ Biển Ngà Uganda Indonesia Thái Lan Ấn Độ Brazil Việt Nam
Năng suất (kg/ha) 450 630 850 950 1,050 1,100 1,700
Chi phí sản xuất trên
mỗi tấn/ha (USD)
1,490 1,322 687 1,056 850 1,321 700
(Nguồn: Neumann Kaffee Gruppe- 2000)
Đặc trưng của sản xuất cà phê toàn cầu là sản lượng theo chu kỳ năm trồi năm sụt và
giai đoạn sau tăng hơn giai đoạn trước, chủng loại cà phê robusta tăng cao hơn so với
arabica và chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu tổng sản lượng. Năng suất và diện tích
đều tăng, mức độ tăng của diện tích cao hơn trong 10 năm gần đây là nguyên nhân làm cho
sản xuất phát triển quá nhanh, đẩy ngành cà phê thế giới vào tình trạng mất cân đối cung
cầu.
1.2.1.2 Giao dòch thương mại
Nguồn cà phê giao dòch trên thò trường thế giới xuất phát từ khoảng 50 quốc gia sản
xuất có đủ năng lực tham gia xuất khẩu, những quốc gia sản xuất khác chỉ đủ đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng trong nước. Cà phê nhân thô là mặt hàng xuất chiếm tỷ trọng tuyệt đối
(khoảng 92- 95%) trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của các nước sản xuất. Nhìn chung, do sản
xuất phát triển và tồn kho cao nên xuất khẩu của các nước sản xuất tăng đều hàng năm, cá
biệt năm 1994 và 1995 số lượng giảm là do hạn hán gây mất mùa tại Brazil. (Xem phụ lục
2A)
Biểu đồ I.1: SẢN LƯNG VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA CÁC NƯỚC SẢN XUẤT
- 11 -

87.3 85.190.289.285.579.980.377.667.670.575.078.2
5.40
9.47
8.18
11.43
12.88
10.06
11.58
10.15
5.87
5.46
5.25
5.64
0
20
40
60
80
100
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
0
2
4
6
8
10
12
14
Số lượng (triệu bao) Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD)

Tổng giá trò xuất khẩu cà phê của các nước sản xuất hàng năm không ổn đònh, kim
ngạch tăng giảm theo nhu cầu tiêu dùng và phụ thuộc rất nhiều vào giá giao dòch. Trung
bình giai đoạn 1997-2003 giá trò kim ngạch giảm 11,3%/năm. Mặc dù lượng tồn kho tại các
nước sản xuất liên tục giảm, đặc biệt giai đoạn 99-03 được xem là mức thấp nhất từ trước
đến nay nhưng cũng không tác động được đến việc tăng giá trò kim ngạch. (Xem phụ lục
2B)
Chỉ riêng 25 quốc gia phát triển gồm Châu Âu, Mỹ, Nhật và Singapore đã nhập khẩu
khoảng 95% lượng cà phê xuất khẩu của các quốc gia sản xuất. Việc nhập khẩu cà phê do
các tập đoàn chế biến chi phối nên chủ yếu chỉ nhập cà phê nhân thô để chế biến phục vụ
nhu cầu tiêu dùng trong nước và tái xuất khẩu sang các nước khác. Mặt khác tổng tồn kho
của các nước nhập khẩu có xu hướng tăng giảm theo giá cả. Giá giảm mạnh từ năm 1999 là
lúc tồn kho liên tục tăng và hiện đang đạt mức cao nhất từ trước đến nay. (Xem phụ lục 3A)
Tổng lượng cà phê tái xuất (đã được tinh chế) trung bình 10 năm gần đây chỉ bằng
khoảng 25,2% so với lượng cà phê xuất khẩu của các nước sản xuất nhưng giá trò lại bằng
41,8%. Vào những năm giá cả xuống thấp, mức chênh lệch này càng cao (giai đoạn 1999-
2003, tỉ lệ này là 27,4% và 53%). Sự chênh lệch này nói lên mức lợi nhuận cao thu được
khi cà phê được chế biến sâu và sự thiếu công bằng trong giao dòch (chỉ nhập cà phê nhân
thô, hạn chế nhập cà phê qua chế biến sâu bằng các hàng rào thuế quan). (Xem phụ lục
3B)
Thông thường giá cả hình thành trên quan hệ cung cầu nhưng giá giao dòch cà phê thế
giới hiện nay hầu như chỉ căn cứ vào giá của những quốc gia nhập khẩu và chế biến cà phê
hàng đầu trên thế giới. Giá có tính quyết đònh trong giao dòch chính thức xuất phát từ giá
Robusta thò trường LIFFE của Luân Đôn và giá arabica thò trường CSCE của New York. Giá
thể hiện tính bất ổn, biên độ dao động lớn, mức độ biến động của giá Arabica ít hơn so với
giá Robusta, giá biến động theo một chu kỳ lớn khoảng 10 năm (72-81, 82-91; 92-2001) và
chu kỳ sau thường thấp hơn chu kỳ trước. (Xem phụ lục 4A)
- 12 -

Biểu đồ I.2: DIỄN BIẾN GIÁ PHỨC HP ICO, ARABICA NEW YORK & ROBUSTA LONDON
65.24
58.86
85.63
145.54
57.02
60.29
34.11
25.88
23.92
49.45
39.56
47.15
118.31
0
25
50
75
100
125
150
175
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Gíá Arabica New York Giá Robusta London Giá phức hợp ICO

Trong khi thò trường cà phê diễn biến theo chiều hướng xấu đối với người sản xuất, giá
bán lẻ tại các quốc gia Châu Âu, Mỹ và Nhật trong 20 năm qua không nhiều biến động và
cao gấp nhiều lần giá bán của người sản xuất. Giá giao dòch xuất nhập khẩu gần đây liên tục
giảm với mức độ ngày càng trầm trọng, tuy nhiên nghòch lý là giá bán lẻ hầu như không
giảm hoặc có giảm nhưng không đáng kể. (Xem phụ lục 4B)
1.2.1.3 Tình hình tiêu thụ cà phê thế giới (phụ lục 5A và 5B)
Tốc độ tăng của tiêu thụ cà phê thế giới 15 năm gần đây (giai đoạn 1989-2003) rất
thấp, bình quân tăng khoảng 1,3%/năm. Nhu cầu tiêu thụ cà phê thế giới sau nhiều năm sút
giảm đang có dấu hiệu phục hồi khả quan, giai đoạn 90-99 tiêu thụ bình quân toàn cầu
97,38 triệu bao/năm thì sang giai đoạn 2000-2003 đã tăng lên 108,5 triệu bao/năm. Tuy
nhiên mức tăng của nhu cầu vẫn thấp so với mức tăng sản xuất cộng với lượng dự trữ khá
lớn đủ sức đáp ứng nhu cầu dù có bất kỳ sự thay đổi nào trong sản xuất. Nhìn chung, tình
hình tiêu thụ cà phê toàn cầu tuy có cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn chưa thể tháo
gỡ ngay được.
Bảng 1.3: CÁN CÂN CÀ PHÊ THẾ GIỚI THEO ƯỚC TÍNH CỦA ICO
- 13 -

Chỉ tiêu
TB 90-99 2000 2001 2002 2003 TB 00-03
(1) Tổng sản lượng (*)
97,377
112,334 109,952 119,947 102,477
111,177
(2) Tổng tồn kho toàn cầu
52,756
37,876 39,541 39,661 41,243
39,580
(3) Tổng tiêu thụ toàn cầu
98,393
104,490 108,297 109,329 111,712
108,457
Các nước sản xuất (*)
22,525 25,939 26,829 27,196 27,658 26,906
Châu Âu, Mỹ, Nhật
60,379 60,488 61,283 61,166 62,992 61,482
Các nước khác (**)
15,489 18,063 20,185 20,967 21,062 20,069
Khả năng/tiêu thụ
{(1)+(2)}/(3)
152.6%
143.8% 138.0% 146.0% 128.7%
139.0%
Sản xuất/tiêu thụ
[(1)/(3)]
99.0%
107.5% 101.5% 109.7% 91.7%
102.5%
Tồn kho/tiêu thụ
[(2)/(3)]
53.6%
36.2% 36.5% 36.3% 36.9%
18.1%
Tồn kho/sản xuất
[(2)/(1)]
54.2%
33.7% 36.0% 33.1% 40.2%
35.6%
(Ghi chú: (*) 51 nước sản xuất và xuất khẩu cà phê thuộc ICO; (**) Các nước không thuộc ICO)
ĐVT: lượng-1.000 bao (60kg/bao), tỷ lệ - % (Nguồn: Tổng hợp số liệu của ICO)
Với mức tiêu dùng cà phê bình quân đầu người cao, Mỹ, Nhật và các quốc gia Châu Âu
luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tiêu dùng cà phê thế giới. Tuy nhiên từ năm 2000 đến
nay mức tiêu dùng có chiều hướng giảm so với thập niên 90. Mặt khác, do mức tiêu dùng cà
phê bình quân đầu người quá thấp của các quốc gia sản xuất và vẫn không có nhiều cải
thiện trong những năm gần đây (bình quân 0,62 kg/người giai đoạn 90-99 tăng lên
0,66kg/người giai đoạn 2000-2003) càng làm cho tình trạng khủng hoảng thừa kéo dài hơn.
Gần đây ICO đã kêu gọi người sản xuất và rang xay thuyết phục người tiêu dùng trên toàn
thế giới uống cà phê nhiều hơn nữa, đặc biệt ở những thò trường chưa khai thác (có truyền
thống uống trà), đồng thời thông qua “Nghò quyết 407” mà nội dung chủ yếu là “Chương
trình nâng cao chất lượng cà phê”, cố gắng loại bỏ cà phê dưới tiêu chuẩn khỏi thò trường,
nhằm giảm tình trạng cung thừa và thúc đẩy cầu, cứu ngành cà phê thế giới thoát khỏi cuộc
khủng hoảng toàn cầu.
1.2.2 Tự do hóa thò trường cà phê thế giới:
Những thay đổi trong thương mại thường bắt nguồn từ sự phát triển và tăng trưởng của
sản xuất. Nhu cầu mở rộng sản xuất cà phê đã làm gia tăng nhu cầu giao dòch, dẫn đến yêu
cầu đòi hỏi sự tự do hóa thương mại. Chính vì thế, ngày 04/9/1989 hệ thống quota của ICO –
Hiệp hội cà phê thế giới tan rã, ICO không còn khả năng áp đặt sản lượng sản xuất và xuất
khẩu lên các quốc gia thành viên mà chỉ đóng vai trò liên kết, chỉ dẫn là chính. Sự kiện này
đánh dấu một bước phát triển mới của ngành cà phê thế giới, đã tác động rất lớn đến nhiều
quốc gia sản xuất cà phê, thúc đẩy sự tự do hóa thương mại cà phê toàn cầu.
Trước ngày 04/9/1989 trong 51 nước sản xuất cà phê thuộc ICO có 25 quốc gia bán cà
phê thông qua các Doanh nghiệp độc quyền do nhà nước quản lý, 11 quốc gia tiêu thụ thông
- 14 -

qua Doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, 15 quốc gia còn lại việc tiêu thụ cà phê hoàn toàn
do khu vực tư nhân đảm trách. Hiện nay chỉ còn 3 nước xuất khẩu cà phê thông qua các
Doanh nghiệp độc quyền nhà nước. Các quốc gia còn lại, trong đó 38 quốc gia đều do các
Doanh nghiệp tư nhân đảm trách, các Doanh nghiệp nhà nước có tham gia hoạt động trong
lónh vực này cũng không được ưu tiên và phải cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh
tế khác.
Tự do hoá thương mại thò trường cà phê toàn cầu kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của
ngành cà phê thế giới trong mười năm gần đây, gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các quốc
gia sản xuất cà phê là chính, sự thiếu công bằng trong giao dòch thương mại có dòp bộc lộ
rõ nét, đồng thời hoạt động thương mại cà phê toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp và khó
dự đoán. Sự gia tăng liên tục về diện tích và sản lượng cà phê toàn cầu làm thay đổi cán
cân cung cầu, mức cung liên tục tăng trong khi nhu cầu không có nhiều thay đổi; các quốc
gia phát triển có tiềm lực tài chính gần như nắm vai trò chủ đạo trong giao dòch cà phê thế
giới; giá cả biến động phức tạp và theo chiều hướng ngày càng xấu, giá cả ngang bằng hoặc
xuống thấp hơn giá thành trong 5 năm gần đây đã khiến ngành cà phê thế giới rơi vào một
cuộc khủng hoảng được xem là trầm trọng nhất trong lòch sử của ngành.
1.2.3 Hệ thống thò trường xuất khẩu cà phê thế giới
Hiện nay các quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê sử dụng nhiều hệ thống thò trường
khác nhau nhưng nhìn chung có 4 loại hệ thống thò trường cơ bản sau:
1.2.3.1 Hệ thống thò trường tự do: Trong hệ thống thò trường này, giá bán của người
sản xuất cà phê được quyết đònh trên cơ sở tiêu thụ cà phê trên thò trường thế giới, hiệu
quả của ngành sản xuất cà phê tùy thuộc vào tác động có lợi hoặc bất lợi của tình hình
cung cầu cà phê thế giới. Các tổ chức, hiệp hội cà phê giữ vai trò quản lý về chất lượng
trên cơ sở bắt buộc người sản xuất phải tuân thủ dưới các mức độ khác nhau, được sự
giám sát, hỗ trợ của Nhà nước bằng nhiều chính sách điều tiết chung. Loại hình này
được áp dụng ở một số quốc gia như Brazil, Mexico, Indonesia, Việt Nam, Madagascar.
1.2.3.2 Hệ thống thò trường tự do với các qui đònh của chính phủ: Trong hệ thống
thống thò trường tự do với các qui đònh của chính phủ, thò trường tự do được quyết đònh
bởi giá cả thế giới nhưng chính phủ đóng vai trò lớn hơn như có thể qui đònh việc giám
sát giá cả, kiểm soát chất lượng, cấp giấy phép xuất khẩu và thực hiện các nghiên cứu,
các dự án nhằm mở rộng và phát triển ngành cà phê. Hệ thống này được áp dụng với
mức độ thành công khác nhau tại các nước: Uganda, Cameroon, Papua New Guinea.
1.2.3.3 Hiệp hội các Doanh nghiệp sản xuất cà phê thuộc chính phủ: Loại hình này
thường phổ biến ở các nước Châu Mỹ La tinh, trong đó chính phủ nắm khu vực hiệp hội
sản xuất, chế biến cà phê. Các hiệp hội đóng vai trò hỗ trợ cho sản xuất, chế biến, xuất

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét