Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

238 Tổ chức công tác Kế toán chi phí sản Xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Chơng 1
Cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất
kinh doanh vàtính giá thành sản phẩm
1.1/ Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1/ Sự cần thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong nền kinh tế thị trờng
Đất nớc ta hiện nay đang trên con đờng đổi mới và phát triển với nền kinh
tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, chịu tác động trực tiếp của các quy luật kinh tế nh quy luật giá trị, quy
luật cạnh tranh, quy luật cung cầu Chính vì vậy, một doanh nghiệp muốn tồn
tại và tạo đợc một chỗ đứng vững chắc trên thị trờng thì sản phẩm sản xuất ra
phải phù hợp, đạt chất lợng cao và thu nhập phải bù đắp chi phí, có lợi nhuận
tức là việc xác định tập hợp chi phí sản xuất phải tuyệt đối chính xác, đầy đủ
sao cho chi phí sản xuất bỏ ra là tối thiểu, giá thành sản phẩm thấp nhất nhng
vẫn đảm bảo chất lợng. Tính toán chi phí sản xuất bỏ ra để tính giá thành sản
phẩm, doanh nghiệp phải chú trọng làm tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm theo đúng chế độ nhà nớc quy định và phù hợp với tình
hình thực tế của doanh nghiệp mình. Công tác này không chỉ có ý nghĩa đối với
5
Trờng CĐCN Hà Nội Lớp CĐKT 3-K2
riêng từng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với nhà nớc và các bên liên
quan.
- Đối với doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trờng làm tốt công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp nhìn
nhận đúng đắn thực trạng quá trình sản xuất, quản lý cung cấp các thông tin
một cách kịp thời chính xác chô bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp để có
những biện pháp, chiếm lợc, sách lợc phù hợp nhằm tiết kiệm tối đa chi phí góp
phần hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời làm tốt công tác tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng vốn
hiệu quả, đảm bảo tính chủ động trong sản xuất kinh doanh.
- Đối với nhà nớc: Làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà nớc có cái nhìn
tổng thể toàn diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, từ đó đa ra các đờng lối
chính sách phù hợp để phát triển các doanh nghiệp thực sự làm ăn có hiệu quả
và hạn chế quy mô các doanh nghiệp sản xuất thua lỗ triền miên không có khả
năng khắc phục nhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng của nền kinh
tế đất nớc. Mặt khác, công tác này còn ảnh hởng trực tiếp đối với các khoản
thuế mà nhà nớc phải chú trọng và quan tâm đến công tác này trong các doanh
nghiệp.
- Đối với các bên liên quan: Nh ngân hàng, đối tác thì việc tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp cũng rất quan
trọng. Một doanh nghiệp làm ăn có lãi chắc chắn sẽ chiếm đợc giao thầu. Công
tác này có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng cũng nh của đối tác.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trờng công tác tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghhiệp là vô cùng quan trọng nó ảnh h-
ởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, quyền lợi của các
bên có liên quan.
6
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
1.1.2/ Khái niệm, kết cấu và phân loại chi phí sản xuất
1.1.2.1/ Khái niệm chi phí sản xuất
Sự phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất, sản xuất
chính là quá trình kết hợp của ba yếu tố : T liệu lao động, đối tợng lao động và
sức lao động. Quá trình sản xuất cũng chính là quá trình dịch chuyển của ba
yếu tố nói trên để cấu thành nên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.Nh vậy, để tiến
hành sản xuất hàng hoá ngời ta phải bỏ ra những chi phí về lao động sống và lao
động vật hoá, các yếu tố cấu thành nên giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm
hàng hoá.
Trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất độc lập, tự
chủ trong hoạt động kinh tế. Điều này buộc các doanh nghiệp phải hạch toán
kinh doanh thực sự và chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh và
tăng lợi nhuận. Để việc hạch toán chi phí kinh doanh đạt đợc hiệu quả, các
doanh nghiệp cần nắm bắt rõ và sâu sắc bản chất kinh tế của chi phí sản xuất
kinh doanh cũng nh phân loại nó theo những cách thức và mục đích nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định ( tháng, quý, năm). Nói cách khác,
chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn-dịch chuyển giá
trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá thành ( sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ).
1.1.2.2/ Kết cấu, nội dung chi phí sản xuất
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất không chỉ
đơn thuần thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện các hoạt
động dịch vụ thơng mại khác (nh mua bán hàng hoá, xúc tiến thơng mại ).
7
Trờng CĐCN Hà Nội Lớp CĐKT 3-K2
Nh vậy, khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì các doanh
nghiệp này phải bỏ ra những chi phí nhất định, bao gồm :
Chi phí sản xuất sản phẩm, gồm có :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí về nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu đợc sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản trả cho ngời lao động trực tiếp
sản xuất nh tiền công, tiền lơng và các khoản phụ cấp có tính chất lơng, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản
xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí chung phát sinh ở các phân x-
ởng nh tiền lơng và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên phân xởng.
Chi phí bán hàng: Gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nh tiền lơng, các khoản phụ cấp có tính
chất lơng trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận chuyển, bảo
quản , khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu bao bì, dụng cụ, chi phí bảo
hành sản phẩm, chi phí quảng cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm có các khoản chi cho bộ máy
quản lý và điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung
của doanh nghiệp nh chi phí về lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ
cho bộ máy quản lý- điều hành doanh nghiệp, các chi phí phát sinh ở phạm vi
toàn doanh nghiệp nh chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, lãi vay vốn kinh
doanh, vốn đầu t tài sản cố định, dự phòng
Nh vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp từ ba chi phí bộ phận là:
Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và đợc khái quát
theo công thức sau:
CPSXKD = CPSXSP + CPBH + CPQLDN
Trong đó: CPSXKD : Là chi phí sản xuất kinh doanh
CPSXSP : Là chi phí sản xuất sản phẩm
8
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
CPQLDN : Là chi phí quản lý doanh nghiệp
Do hoạt động chính của doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm hàng hoá nên
chi phí sản xuất sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng
chi phí sản xuất kinh doanh là không giống nhau giữa các doanh nghiệp và ngay
cả trong bản thân doanh nghiệp. Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm sản
xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp và của cả ngay doanh nghiệp đó trong
các giai đoạn sản xuất khác nhau thì kết cấu về chi phí cũng thay đổi. Tỷ trọng
chi phí này còn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp, điều kiện tự
nhiên, loại hình sản xuất, trình độ tổ chức quản lý của mỗi doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan
trọng, không những cho ta biết tỷ trọng các loại chi phí trong tổng số chi phí
sản xuất kinh doanh mà còn biết đợc đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng nh trình độ công nghệ, trình độ quản lý của doanh nghiệp. Kết cấu
chi phí sản xuất kinh doanh còn là tiền đề để kiểm tra giá thành sản phẩm, xác
định phơng hớng cụ thể cho việc phấn đấu hạ giá thành, mà làm đợc điều đó thì
doanh nghiệp phải biết tiết kiệm bất kỳ một loại chi phí nào.
1.1.2.3/ Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh
tế, mục đích, công dụng khác nhau. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý ngời ta tiến
hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức thích hợp.
Phân loại chi phí là việc xắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm
theo những đặc trng nhất định. Xét về mặt lý luận cũng nh thực tế, có nhiều
cách phân loại chi phí khác nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại chi phí
nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán. Ta có thể tiến
hành phân loại chi phí xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân loại chủ yếu
sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
9
Trờng CĐCN Hà Nội Lớp CĐKT 3-K2
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của chi
phí để chia ra thành các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí có cùng nội dung
kinh tế không phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích,
tác dụng của chi phí nh thế nào. Cách phân loại này giúp cho việc
xây dựng và phân tích định mức vốn lu động cũng nh lập, kiểm tra và phân tích
dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành thì toàn bộ chi phí đợc chia thành các
yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản
xuất kinh doanh (loại trừ giá trị không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi).
- Tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Là toàn bộ tiền lơng và phụ cấp
có tính chất lơng mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân viên chức trong kỳ.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Đây là
khoản chi phí đợc trích lập theo tỷ lệ % tính theo lơng và quy định hiện hành thì
chiếm 19% trên tổng lơng.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao
trong kỳ của các loại tài sản cố định trong doanh nghhiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi về điện, nớc, điện thoại,
tiền trả hoa hồng đại lý, uỷ thác và môi giới xuất-nhập khẩu, quảng cáo và các
dịch vụ mua ngoài khác.
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các khoản chi phí đã kể trên.
Cách phân loại này rất cần thiết cho công tác kế toán, nó có u điểm là cho
biết đợc kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong
kỳ để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: Chi phí sản xuất
kinh doanh theo yếu tố phục vụ cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp
và phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí trong doanh nghiệp.
10
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng
Cơ sở của phơng pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa
điểm phát sinh cũng nh mức phân bổ chi phí cho từng đối tợng. Theo quy định,
giá trị toàn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau :
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ. Không tính
vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích phục vụ
nhu cầu sản xuất chung hay cho những hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp phải
trả và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trớc tiền lơng nghỉ phép
trên tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định. Không tính vào
khoản này khoản tiền lơng phụ cấp và các khoản trích trên tiền lơng của nhân
viên phân xởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý doanh nghiệp hay nhân
viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ
sản xuất chung tại bộ phận sản xuất (phân xởng, đội trại ); bao gồm các điều
khoản sau:
+ Chi phí nhân viên phân xởng: Gồm các chi phí về tiền lơng, phụ cấp phải
trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lơng của nhân viên quản
lý, nhân viên thống kê, nhân viên bảo vệ tại phân x ởng sản xuất theo quy
định.
+ Chi phí vật liệu: Gồm vật liệu các loại sử dụng cho nhu cầu sản xuất
chung của phân xởng (đội, trại ) sản xuất, nh dùng để sửa chữa tài sản cố
định, dùng cho công tác quản lý tại phân xởng.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại công cụ, dụng cụ dùng cho
nhu cầu sản xuất chung của phân xởng sản xuất nh khuôn mẫu, dụng cụ, giá
lắp, dụng cụ cầm tay
11
Trờng CĐCN Hà Nội Lớp CĐKT 3-K2
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm số khấu hao của tài sản cố
định hữu hình, tài sản vô hình và tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở phân
xởng sản xuất nh khấu máy móc thiết bị sản xuất, khấu hao nhà xởng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng sản
xuất nh chi phí về điện, nớc, điện thoại, thuê sửa chữa tài sản cố định.
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các
khoản chi đã kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng sản
xuất.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng kinh tế có tác dụng
phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức; là cơ sở cho kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục; là căn cứ để phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối l-
ợng sản phẩm, công việc, lao vụ
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lợng
hoạt động (tính theo sản lợng hàng hoá hoặc doanh thu), ngời ta chia chi phí
làm loại :
- Chi phí khả biến hoặc biến phí: Là các khoản chi phí thay đổi tỷ lệ
thuận với khối lợng sản xuất ra. Sự thay đổi này chỉ đúng khi ta xét về tổng thể
chi phí trên khối lợng tổng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhng nếu tính cho
một đơn vị sản phẩm thì lại không đổi. Những chi phí thuộc về chi phí khả biến
gồm có: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhiên liệu, động lực, tiền lơng công
nhân trực tiếp sản xuất, hoa hồng đại lý và các khoản chi phí khác.
- Chi phí bất biến hay còn gọi là định phí: Là các khoản chi phí không
đổi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra thay đổi trong một phạm vi nhất định
nào đó. Ngợc lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi giới hạn khối
lợng sản phẩm sản xuất ra) là không đổi nhng chi phí bất biến tính cho một đơn
12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
vị sản phẩm sẽ giảm đi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra tăng lên và ngợc lại.
Những chi phí thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí bảo dỡng máy móc thiết bị, tiền lơng bộ phận quản lý doanh nghiệp, tiền
thuê nhà xởng, đất đai máy móc, chi phí bảo hiểm
- Chi phí hỗn hợp: Là các khoản chi phí vừa thể hiện đặc tính định phí
vừa thể hiện đặc tính của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí về
tiền điện, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thờng xuyên tài sản cố định.
Việc phân loại chi phí theo phơng pháp này có ý nghĩa lớn đối với công tác
quản lý doanh nghiệp. Qua việc xem xét mối quan hệ giữa khối lợng sản xuất
với chi phí bỏ ra giúp các nhà quản lý tìm ra những biện pháp quản lý thích hợp
với từng loại chi phí để tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm. Đồng thời việc phân
loại này có tác dụng xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ với sản l-
ợng và lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và phục vụ các quyết định quan trọng
khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một
loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất
định và hoàn toàn có thể hạch toán , quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc
lao vụ, dịch vụ đó.
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm,
công việc lao vụ, dịch vụ, nhiều đối tợng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp
cho từng đối tợng bằng cách phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần tuý đối với kỹ thuật hạch toán, trờng
hợp có phát sinh chi phí gián tiếp bắt buộc phải áp dụng phơng pháp phân bổ,
lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp. Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập
hợp cho từng đối tợng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn
13
Trờng CĐCN Hà Nội Lớp CĐKT 3-K2
phân bổ chi phí. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức quan tâm
đến việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí nếu muốn có thông tin chuẩn mực
về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt động
doanh nghệp.
Ngoài các cách phân loại chi phí trên, ngời ta còn phân loại chi phí sản
xuất theo các tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên việc lựa chọn tiêu thức phân loại
nào là tuỳ thuộc vào tính chất, địa điểm, ngành nghề kinh doanh và mục tiêu
quản lý.
1.1.3/ Giá thành sản phẩm
1.1.3.1/ Khái niệm , bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm
* Khái niệm
Sự vận động của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất
bao gồm hai mặt đối lập nhau nhng có liên quan mật thiết với nhau. Một là chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra, mặt khác là kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu
đợc. Những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng của xã hội cần đợc tính giá thành.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành trong kỳ (tháng, quý, năm). Những khoản chi phí nào
phát sinh (bao gồm cả kỳ trớc chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi phí
trích trớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo nên giá
thành sản phẩm. Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm là tập hợp
các chi phí sản xuất nhng đợc kết tinh trong sản phẩm đã hoàn thành. Do đó khi
muốn xác định giá thành của sản phẩm thì ta phải xác định và tập hợp chi phí đ-
ợc một cách chính xác các khoản chi phí sản xuất đã phát sinh từ đó tiến hành
quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét