Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế
của nhà nớc để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt đợc các
mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể đợc hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thờng.
Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lợng
tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của kinh tế vĩ
mô, trên cơ sở đó đạt đợc mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của
đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá. Theo nghĩa thông thờng là chính sách quan
tâm đến khối lợng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kỳ tới (thờng là một năm)
phù hợp với mức tăng trởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên
cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hoá .
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu nh chính sách tài chính chỉ tập trung
vào thành phần. Kết cấu các mức chi phí thuế khoá của nhà nớc, thì chính sách
tiền tệ quốc gia lại tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền
KTQD, bao gồm việc đáp ứng khối lợng cần cung ứng cho lu thông, điều khiển hệ
thống tiền tệ và khối lợng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế , tạo điều kiện và
thúc đẩy hoạt động của thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn theo những quỹ đạo đã định,
kiểm soát hệ thống các ngân hàng thơng mại, cùng với việc xác định tỷ giá hối
đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại và kinh tế ngoại thơng
nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn
định giá cả hàng hoá .
Chính vì vậy chính sách tiến tệ tác động nhạy bén tới lạm phát và đây là giải
pháp khá hữu hiệu trong việc kiểm soát lạm phát.
4. Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát.
Để thấy rõ tác động của chính sách tiền tệ tới tỷ lệ lạm phát ta sẽ đi tìm hiểu
từng công cụ một của chính sách tiền tệ.
4.1. Dự trũ bắt buộc.
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các ngân hàng thơng mại có khả
năng biến những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ
thống, khả năng sinh ra bội số tín dụng, tức là khả năng tạo tiền. Để khống chế
khả năng này, ngân hàng trung ơng buộc các ngân hàng thơng mại phải trích một
phần tiền huy động đợc theo một tỷ lệ quy định gửi vào ngân hàng trung ơng
không đợc hởng lãi. Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm
5
khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế mức tăng bội số tín dụng của các ngân hàng
thơng mại.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa số lợng phong tiện thanh toán cần khống
chế (bị "vô hiệu hoá" về mặt thanh toán) trên tổng số tiền gửi nhằm điều chỉnh khả
năng thanh toán và khả năng tín dụng của các ngân hàng thơng mại.
Khi lạm phát cao, ngân hàng trung ơng nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng
cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ
giảm), khối lợng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất
tăng, đầu t giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm).
Ngợc lại nếu ngân hàng trung ơng hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả
năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các ngân hàng thơng mại cũng tăng lên,
khối lợng tín dụng và khối lợng thanh toán có xu hớng tăng, đồng thời tăng xu h-
ớng mở rộng khối lợng tiền. Lý luận tơng tự nh trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn
tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng). Nh vậy công cụ DTBB mang tính hành chính áp
đặt trực tiếp , đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi
phục hoạt động kinh tế trong trờng hợp nền kinh tế phát triển cha ổn định và khi
các công cụ thị trờng mở tái chiết khấu cha đủ mạnh để có thể đảm trách điều hoà
mức cung tiền tệ cho nền kinh tế. Nhng công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm, vì
chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lợng tiền tăng lên rất
lớn khó kiểm soát. Mặt khác một điều bất lợi nữa là khi sử dụng công cụ dự trữ bắt
buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ nh việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn
đề khả năng thanh khoản ngay đối với một ngân hàng có dự trữ vợt mức quá thấp,
thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng cũng gây nên tình trạng không ổn định
cho các ngân hàng.Chính vì vậy sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát
cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm phát ít đọc sử dụng trên thế giới (đặc biệt là
những nớc phát triển , có nền kinh tế ổn định)
4.2. Tái chiết khấu
Tái chiết khấu là phơng thức để ngân hàng trung ơng đa tiền vào lu thông,
thực hiện vai trò ngời cho vay cuối cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, ngân hàng
trung ơng đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống ngân hàng thơng mại thực hiện
việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh toán. Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền
trung ơng, tăng khối lợng tiền tệ vào lu thông. Do đó ảnh hởng trực tiếp đến quá
trình điều khiển khối lợng tiền và điều hành chính sách tiền tệ. Tuỳ theo tình hình
từng giai đoạn, tuỳ thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai
đoạn ấy, cần thực hiện chính sách "nới lỏng" hay "thắt chặt" tín dụng mà ngân
6
hàng trung ơng quy định lãi suất thấp hay cao. Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng
thời kỳ phải có tác dụng hớng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế của
giai đoạn đó. Khi ngân hàng trung ơng nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân
hàng thơng mại cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn.
Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm "cầu" về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền
tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi). Do đó đầu t giảm đi dẫn tới tổng
cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). Trờng hợp ngợc lại tức là
ngân hàng trung ơng kích thích tăng cung cầu tiền tệ và làm cho giá tăng (tỷ lệ
lạm phát tăng). ở các nớc công cụ nghiệp vụ trực tiếp để thực hiện tái chiết khấu là
thơng phiếu, hoặc các loại tín phiếu là những công cụ rất thông dụng trên thị trờng
tiền tệ và thị trờng vốn nhng ở nớc ta cha có công cụ truyền thống để thực hiện
việc chiết khấu và tái chiết khấu. Mặt khác công cụ tái chiết khấu vừa có khả năng
giải quyết khả năng thanh toán vừa có khả năng mở rộng khối lợng tín dụng cho
nền kinh tế. Cho nên có thể ví công cụ tái chiết khấu là cáí bơm hai chiều vừa hút
vừa đẩy. Khi bơm đảy ra là cung thêm tiền cho nền kinh tế, khi có hiện tợng thiểu
phát. Và bơm hút vào thu hồi lợng tiền khi nền kinh tế có hiện tợng lạm phát.
Tuy nhiên khi NHTW ấn định lãi suất chiết khấu tại một mức nào đó sẽ xảy
ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất thị trờng và lãi suất chiết
khấu vì khi đó lãi suất cho vay thay đổi. Những biến động này dẫn đến những thay
đổi ngoài ý định trong khối lợng cho vay chiết khấu và do đó thay đổi trong cung
ứng tiền tệ làm cho việc kiểm soát cung ứng tiền tệ vất vả hơn. Đây chính là hạn
chế của công cụ tái chiết khấu trong việc kiểm soát lạm phát.
4.3. Hoạt động thị trờng mở.
Nếu nh công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của NHTW, tức là
NHTW phải chờ NHTM đang cần vốn đa thơng phiếu, kỳ phiếu đến để xin "tái
cấp vốn" thì nghiệp vụ thị trờng mở là công cụ chủ động của ngân hàng trung ơng
để điều khiển khối lợng tiền, qua đó đã kiểm soát đợc lạm phát.
Qua nghiệp vụ thị trờng mở, NHTW chủ động phát hành tiền trung ơng vào l-
u thông hoặc rút bớt tiền khỏi lu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân
hàng quốc gia nhằm tác động trớc hết đến khối lợng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ
của các NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán
của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lợng tiền trong thị trờng tiền tệ
chúng ta. Khi nghiên cứu phần trớc đã biết rằng khối lợng tiền tệ ảnh hởng trực
tiếp tới tỷ lệ lạm phát , việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.
7
Trong nghiệp vụ thị trờng mở, ngân hàng trung ơng điều khiển cả khối lợng
tiền tệ và lãi suất tín dụng thông qua "giá cả" mua và bán trái phiếu. Tất cả những
cuộc can thiệp vào khối lợng tiền bằng công cụ thị trờng mở đều đợc tiến hành d-
ờng nh là lặng lẽ và vô hình, "không can thiệp thô bạo", điều khiển mạnh mà
không chứa đựng "một chút mệnh lệnh". Một mặt nghiệp vụ thị trờng mở có thể
dễ dàng đảo ngợc lại. Khi có một sai lầm trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trờng
mở, nh khi thấy cung tiền tệ tăng hoặc giảm quá nhanh ngân hàng thơng mại có
thể lập tức đảo ngợc lại bằng cách bán trái phiếu hoặc mua trái phiếu và ngợc lại.
Đây là công cụ cực kỳ quan trọng của nhiều NHTW, và đợc coi là vũ khí sắc
bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói chung, ổn định lạm phát nói riêng.
Nhng ở nớc ta đang ở trong thời kỳ đặt nền móng. Bởi vì nghiệp vụ này đòi
hỏi phải có môi trờng pháp lý nhất định. Trong thời kỳ lạm phát đến 3 con số, Việt
nam đã áp dụng chính sách lãi suất để đẩy lùi lạm phát rất nhanh chóng. (nhờ vào
đặc điểm riêng biệt của lạm phát ở Việt nam). Chúng ta sẽ nghiên cứu xem chính
sách lãi suất tác động tới lạm phát nh thế nào.
4.4. Lãi suất.
Lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ. Nó đợc áp dụng
nhất quán trong một lãnh thổ và đợc ngân hàng nhà nớc điều hành chặt chẽ và
mềm dẻo tuỳ theo từng thời kỳ cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung
ứng vốn. Nh vậy chúng ta có thể thấy rằng lãi suất tác động làm thay đổi cầu tiền
tệ trong dân c, và làm thay đổi tỷ lệ lạm phát. Thật vậy, khi có lạm phát. Ngân
hàng nhà nớc sẽ tăng lãi suất tiền gửi. Chính vì thế ngời dân và các công ty sẽ đầu
t vào ngân hàng (gửi tiền vào ngân hàng) có lợi hơn là đầu t vào sản xuất kinh
doanh. Nh vậy cầu tiền giảm do đó tổng đầu t giảm, làm cho tổng cầu giảm dẫn tới
giá giảm. Nhng chúng ta biết rằng i
n
= i
i
+ i
r
trong đó i
n
là tỷ lệ lãi suất danh nghĩa,
i
l
: tỷ lệ lãi suất thực tế và i
i
là tỷ lệ lạm phát, do đó khi có lạm phát cao, áp dụng
chính sách lãi suất ở đây chính là việc tăng tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cao hơn hẳn tỷ
lệ lạm phát (để duy trì lãi suất thực dơng) qua đó mới tạo đợc cầu tiền danh nghĩa
tơng ứng với cầu tiền thực tế. Tóm lại khi lãi suất tiền gửi cao thì động viên đợc
nhiều ngời gửi tiền vào NHTM và ngợc lại. NHTM mua tín phiếu NHNN với lãi
suất kinh doanh có lãi thì sẽ giảm đợc khối lợng tín dụng. Nếu lãi suất tiền (cho
vay) cao sẽ làm nản lòng ngời vay vì kinh doanh bằng vốn vay NHTM không có
lợi nhuận. Nh vậy dùng công cụ lãi suất có thể tăng hoặc giảm khối lợng tín dụng
của NHTM để đạt đợc mục đích của chính sách tiền tệ (ổn định tỷ lệ lạm phát).
Tuỳ từng thời điểm mà chính sách lãi suất đợc áp dụng thành công trong việc
8
chống lạm phát. ở Việt nam đã áp dụng rất thành công chính sách lãi suất vào
những năm cuối thập kỷ 80 trong việc giảm tỷ lệ lạm phát từ 3 con số xuống còn
một con số do nền kinh tế ở nớc ta lúc đó là nền kinh tế tuy đã mở cửa nhng cha
mở hẳn, do đó chỉ có tác động trong nớc đầu t bằng Việt nam đồng chứ quốc tế ít
đầu t vào. Chính vì thế ngày nay không thể áp dụng chính sách lãi suất với tỷ lệ lãi
suất rất cao để giảm tỷ lệ lạm phát mà phải quan tâm đến mối quan hệ giữa lãi suất
trong nớc và lãi suất nớc ngoài . Trong việc kiểm soát lạm phát đây là công cụ cổ
điển, các nớc ngày càng ít sử dụng hơn. Tuy đây là một công cụ rất quan trọng
trong việc kiểm soát lạm phát và huy động vốn cũng nh cung cấp vốn.
4.5. Hạn mức tín dụng:
Ngoài những công cụ cơ bản trên, ngân hàng nhà nớc còn sử dụng công cụ
hạn mức tín dụng để điều hành, làm cho khối lợng tín dụng đối với NHTM không
vợt quá mức cho phép để từ đó bảo đảm mức lạm phát đã đợc phê duyệt. Hạn mức
tín dụng là khối lợng tín dụng tối đa mà NHTW có thể cung ứng cho tất cả các
NHTM trong thời kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trởng kinh tế của thời kỳ.
Đây là một chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp đến khối lợng tiền trung ơng đợc cung ứng
thêm (hay giảm bớt) đối với các NHTM. Khi hạn mức tín dụng giảm, dẫn tới cung
tiền giảm do đó tổng đầu t giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm.
Với mục tiêu ổn định đồng tiền và chống lạm phát đợc coi là mục tiêu số 1, thì
công cụ hạn mức tín dụng là cần thiết. Song việc sử dụng công cụ hạn mức tín
dụng cũng là vấn đề khó khăn không nhỏ cho các ngân hàng thơng mại. Tiền gửi
của nhân dân không thể không thu nhận hàng ngày hàng giờ. Nếu nhận tiền gửi
mà không đợc cho vay thì chẳng khác nào có đầu vào mà không có đầu ra. Nh vậy
đầu ra của vốn huy động bị bế tắc bởi hạn mức tín dụng. Việc xác định hạn mức
tín dụng là rất cần thiết, để thực hiện mục tiêu chống lạm phát. Song nó cũng có
những mặt trái gây khó khăn cho NHTM. Cần có những giải pháp để khắc phục
những khó khăn đó.
II/ Thực trạng của việc sử dụng các công cụ của chính
sách tiền tệ nhằm kiểm soát Lạm phát những năm qua ở
Việt Nam.
1. Dự trữ bắt buộc
Tại điều 45 pháp lệnh ngân hàng nhà nớc đã quy định "NHNN quy định tỷ lệ
dự trữ bắt buộc ít nhất ở mức 10% và nhiều nhất ở mức 35% trên toàn bộ tiền gửi
ở các tổ chức tín dụng. Trong trờng hợp cần thiết hội đồng quản trị ngân hàng nhà
9
nớc quyết định tăng tỷ lệ dự trữ trên mức 35% và NHNN trả lãi mức tăng đó. Trên
thực tế công cụ này đợc bắt đầu sử dụng từ cuối năm 1989 với tổng số tiền các
NHTM phải ký gửi hơn 100 tỷ đồng, năm 1990 là 356 tỷ đồng và các năm sau vẫn
đợc thực hiện theo mức 10% tính trên số tiền gửi của khách hàng.
Trong thời gian đầu, tuy pháp lệnh ngân hàng đã quy định nh trên nhng thực
tế trong một thời gian dài, tỷ lệ 10% đợc ổn định một cách cố định, mặc dù chính
sách tín dụng từ năm 1989 đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau theo chủ
trơng lúc thì thắt chặt, lúc thì nới lỏng (nhằm kiểm soát lạm phát). Nghĩa là việc
thực hiện đa tiền vào lu thông điều khiển khối lợng tiền lu thông luôn đợc thực
hiện theo những dự kiến nhất định, bằng những công cụ khác nhau. Nhng công cụ
dự trữ bắt buộc vẫn đợc thực hiện với một tỷ lệ cố định.
Đầu năm 1994, Ngân hàng trung ơng đã có quy định bổ sung : tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nh-
ng cũng là để thi hành cho một thời gian dài. Sự ổn định nh vậy đã nói lên rằng, ở
nớc ta vào thời kỳ này mới bớc đầu sử dụng công cụ này , nên cha có khả năng
điều khiển nó một cách linh hoạt theo tình hình tiền tệ luôn biến động trong lu
thông, nên cha thực hiện đầy đủ vai trò điều khiển khối lợng tiền lu thông hạn chế
bội số tín dụng của các NHTM nh chức năng vốn có của công cụ này. Đặc biệt ở
năm 1991-1992 các ngân hàng quốc doanh ngoài số vốn dự trữ tối thiểu theo luật
định còn có một lợng vốn tiền gửi khá lớn taị NHTW. Điều này trong một chừng
mực nhất định đã vô hiệu hoá công cụ dự trữ bắt buộc vì nh vậy khi nâng cao hay
hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì hầu nh cũng chẳng ảnh hởng gì đến khả năng
thanh toán và khối lợng tín dụng cung ứng. Mặt khác một số vấn đề tồn tại về mặt
nghiệp vụ và tổ chức thực hiện dự trữ bắt buộc đã giảm tính chất nhaỵ cảm của
công cụ.
Tuy nhiên, thời gian qua NHNN cũng đã sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc
nhằm mục tiêu góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và đã đạt
đợc một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp. Đến nay
để chuẩn bị cho luật NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1998, vấn đề cần
đặt ra là phải nghiên cứu nội dung của luật NHNN nhằm đa ra quy chế dự trữ bắt
buộc phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn mới trong đó
mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế cũng nh kiểm soát lạm phát là quan trọng
nhất.
2. Tái chiết khấu
10
Tái chiết khấu là một công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối l-
ợng tiền tệ và đã đợc nhà nớc cho phép sử dụng tại điều 41 và 43 pháp lệnh NHNN
Việt Nam. Nhng trong thực tế ở nớc ta những năm qua do thừa hởng tiềm thế của
một nền lu thông trong đó không đợc phép tồn tại tín dụng thơng mại, vì vậy cha
có các công cụ truyền thống trực tiếp để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu
nh các loại kỳ phiếu, thơng phiếu Luật thơng mại nớc ta mới đợc công bố và từ
ngày 1-1-1998 mới có giá trị thi hành, bởi vậy nghiệp vụ chiết khấu thơng phiếu
của NHTM cha đợc quy định. Do đó việc tái chiết khấu đợc thực hiện dựa trên căn
cứ các chứng từ do NHTM đã cho vay, nhng cha đến hạn các doanh nghiệp phải
trả nợ lãi. Căn cứ vào chứng từ đó NHNN cho các NHTM vay lại những khoản nợ
mà các NHTM đã cho các doanh nghiệp vay. Một mặt NHTW còn thực hiện ph-
ơng thức "mua lại" các dự án đã đợc các ngân hàng thẩm định trớc khi đầu t nhng
NHTM không đủ vốn. Trong thời gian qua do cha có những công cụ nghiệp vụ để
thực hiện công cụ lãi suất tái chiết khấu nên ngân hàng nhà nớc Việt Nam đã sử
dụng hình thức cho vay cầm cố. Hình thức này đợc thực hiện bằng cách, các
NHTM và các tổ chức tín dụng đem một số loại giấy tờ có giá trị đến NHTW làm
vật thế chấp để vay tiền. Loại tín dụng này nhằm giải quyết khó khăn tài chính
tạm thời cho các NHTM. Hình thức mua lại các dự án đầu t tái cấp vốn theo hình
thức cho vay thế chấp một thời gian dài là công cụ thay thế cho thơng phiếu và kỳ
phiếu . Những hạn chế của công cụ tái chiết khấu ở nớc ta trong thời gian qua đó
là tất yếu trong thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trờng . Tuy nhiên cùng với các
công cụ khác của chính sách tiền tệ công cụ tái chiết khấu (cha hoàn thiện) đã góp
phần đa tỷ lệ lạm phát ở nớc ta từ mức 2 con số ở các năm trớc xuống mức 1 con
số ở năm 1993.
11
3. Hoạt động thị trờng mở
Đây là một trong những công cụ quan trọng đợc NHTW các nớc sử dụng để
điều hành có hiệu quả chính sách tiền tệ. Thậm chí một số ngân hàng coi đây là
công cụ sắc bén nhất trong các hoạt động của mình.
Nhng ở Việt Nam, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp gồm suốt 4 thập kỷ qua, phù hợp với cơ chế đó NHNN Việt Nam không
thể sử dụng các công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, thị trờng mở, lãi suất tái chiết
khấu) để điều hành chính sách tiền tệ. Công cụ đó chỉ có thể và trên thực tế bớc
đầu đã phát huy tác dụng khi hệ thống NHVN đã thực sự đổi mới. Điều 21 luật
NHNN Việt nam đợc quốc hội nớc CHXHCN Việt nam khoá 10 kỳ họp thứ 2
thông qua quy định "NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trờng mở thông qua việc mua
bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN và các loại giấy tờ có
giá ngắn hạn khác trên thị trờng tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Quy định trên về mặt phơng diện pháp lý luật NHNN Việt Nam đã mở ra cho công
cụ thị trờng mở một lối đi khá thông thoáng, không bị ức chế bới khía cạnh nào.
Trên thực tế ở Việt Nam từ năm 1996 đã có những đợt hoạt động của các thị trờng
đấu thầu tín phiếu kho bạc, ngoại tệ bên ngân hàng. Trong đó năm 1996 là 19 đợt,
năm 1997 là 35 đợt đấu thầu trái phiếu, khối lợng trúng thầu là 2912,5 tỷ đồng
trong đó các công ty bảo hiểm mua 828 tỷ đồng, án tổ chức tín dụng mua 2.084,5
tỷ đồng. Điều này cho thấy vốn nằm trong các định chế tài chính còn khá nhiều
nhng cho vay ra có nhiều rủi ro. Các định chế tài chính quay trở lại mua tín phiếu
kho bạc để đảm bảo an toàn và chống lỗ. Tuy nhiên do thị trờng đấu thầu chỉ bán
tín phiếu kho bạc có kỳ hạn một năm nên không tạo ra công cụ tiền tệ để thúc đẩy
sự ra đời của hoạt động thị trờng mở của NHTW. Năm 1998 NHNN phối hợp với
bộ tài chính tiếp tục phát hành thờng xuyên trái phiếu kho bạc, số d trái phiếu đến
cuối tháng 9/1998là 3478,7 tỷ đồng. Tuy nhiên đến nay cho thấy các điều kiện để
đa thị trờng mở vào hoạt động là cha chín muồi, và cha thực sự trở thành công cụ
theo đúng nghĩa của nó. Chúng ta có thể thấy rằng nghiệp vụ thị trờng mở là yếu
tố tác động quyết định nhất đến những biến động trong cung ứng tiền tệ, làm thay
đổi cơ sở tiền tệ trên thị trờng. Chính vì vậy đây là công cụ hữu hiệu trong việc
kiểm soát lạm phát. Do đó việc chính phủ tìm những giải pháp để mau chóng đa
thị trờng mở hoạt động một cách đầy đủ là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
12
4. Lãi suất
Trớc năm 1933, hệ thống ngân hàng ở Việt nam là hệ thống ngân hàng một
cấp, về thực chất nó là một bộ phận của ngân sách nhà nớc. Mối quan hệ của ngân
hàng với kinh tế ngoài quốc doanh và với dân chúng là hạn chế : khi ngân sách
nhà nớc thâm hụt, các ngân hàng phát hành thêm tiền để bù đắp. Khi các DNNN
thiếu vốn thì ngân hàng phát hành tiền cho vay tín dụng. Vì vậy dẫn tới lạm phát
trầm trọng tới mức 3 con số (trong thời kỳ này ngân hàng đã áp dụng chính sách
lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất tiền gửi và nhỏ hơn tốc độ trợt giá. Đây là sự bất
hợp lý, cho nên không huy động đợc vốn trong dân và làm cho hệ thống ngân hàng
tê liệt) Tháng 3 năm 1988, đánh dấu bớc ngoặt cơ bản trong chính sách tiền tệ ở
Việt nam bằng nghị định 53 và tháng 5 năm 1990 là việc ban hành hai pháp lệnh
về ngân hàng. Ngân hàng Nhà nớc và ngân hàng HTX tín dụng và công ty tài
chính. Sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp cùng với việc áp dụng chính sách
lãi suất đã góp phần rất cơ bản vào việc kiềm chế lạm phát những năm sau đó.
Vào đầu năm 1989, chính phủ đã quyết định thay đổi một cách cơ bản chính
sách lãi suất. Quyết định số 39/HĐBT ngày 10/4/1989của HĐBT đa ra các nguyên
tắc cơ bản để xác định lãi suất tiền gửi và cho vay của NHNN. Các nguyên tắc đó
là:
- Lãi suất áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế và đợc điều chỉnh
theo sự biến động của chỉ soó giá cả trên thị trờng xã hội.
- Mọi nguồn vốn mà ngân hàng huy động để cho vay đều đợc hởng lãi, mọi
khoản vốn ngân hàng cho vay đều phải thu lãi.
- Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi bình quân 0,6%
tháng.
- Trong cơ cấu lãi suất tiền gửi và cho vay phải bao gồm lãi suất cơ bản (lãi
suất thực dơng) và chỉ số trợt giá của thị trờng xã hội.
Cụ thể từ giữa tháng 3-1989 đã đa lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên cao hơn chỉ
số lạm phát hàng tháng. Tháng 1 và tháng 2 năm 1989 chỉ số giá chỉ tăng hơn
7,4% và 4,2% nhng lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng và không có kỳ
hạn đã đợc mạnh dạn đa lên 12% và 9% mỗi tháng . Biện pháp lãi suất thực dơng
này lần đầu tiên đợc thực thi đã phá vỡ sự trì trệ của các kênh thu hút tiền thừa
trong dân và khắc phục căn bản sự tê liệt của chính sách lãi suất cần ổn định từ
năm 1985 đến quý I năm 1989. Số d tiền tiết kiệm tăng lên nhanh chóng ngay
13
tháng đầu, quý đầu. áp dụng chính sách này ngay lần đầu đã giảm lạm phát một
cách nhanh chóng (cũng bất lợi và khó khăn đó là chỉ 3 tháng sau đã trở thành
thiểu phát. Tháng 6/1992. NHNN đã điều chỉnh lãi suất theo hớng:
- Đảm bảo lãi suất dơng, tức là lãi suất cho vay không thấp hơn lãi suất huy
động bình quân.
- NHNN chỉ quy định mức lãi suất cho vay tối đa và mức lãi suất tiền gửi tối
thiểu, còn mức lãi suất cụ thể sẽ do các NHTM quyết định.
- Xoá bỏ cơ chế nhiều mức lãi suất phân biệt theo thành phần kinh tế cũng
nh theo các loại hình doanh nghiệp , thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng đối
với tất cả các thành phần kinh tế .
Đây là bớc cải tiến cơ bản theo hớng từng bớc tự do hoá lãi suất. Trong
những năm tiếp theo biện pháp chủ yếu để kiểm soát cung ứng tiền tệ (qua đó
kiểm soát đợc lạm phát) là nâng cao lãi suất bằng biện pháp hành chính lên mức
cao, thực hiện thắt chặt tín dụng cấp cho khu vực kinh tế quốc doanh và ngân sách
nhà nớc. Tiếp theo một bớc cải cách chính sách lãi suất nữa đó là với quyết định
381/QĐ-NH ngày 28-12-1995 của thống đốc ngân hàng nhà nớc, kể từ ngày 1-1-
1996 lãi suất trần chính thức trở thành một trong những công cụ chủ chốt để điều
hành chính sách tiền tệ. Đây là quyết định vĩ mô có tầm ảnh hởng sâu rộng nhất
trong năm 1996. Từ mức trần 1,75%/tháng dành cho khu vực thành thị và 2%
/tháng dành cho khu vực nông thôn, cho đến thời điểm này lãi suất trần đã áp dụng
thống nhất cho cả hai khu vực thành thị và nông thôn là 1,2% tháng đối với cho
vay ngắn hạn và 1,25% /tháng đối với trung và dài hạn, không chỉ góp phần biến
đổi cơ bản thực trạng tín dụng mà còn chứng minh sự vận dụng khá chuẩn xác
những giải pháp đặc thù trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Bớc đầu áp dụng
không tránh khỏi những vớng mắc nhng sau một thời gian khá ngắn, hệ thống
NHTM dờng nh đã thích nghi đợc với cơ chế lãi suất trần, tự điều chỉnh nhằm tối -
u hoá cơ cấu tín dụng và cân đối tài chính để sẵn sàng ứng chiếu với 5 lần điều
chỉnh giảm trần lãi suất của NHNN trong 2 năm 1996-1997 và lần đầu chỉnh tăng
lãi suất trần gần đây trong tháng 1/1998 (lãi suất cho vay ngắn hạn từ 1% lên 1,2%
/tháng, lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 1,1% lên 1,25%/tháng. Hai mức lãi suất
cơ bản này áp dụng chung cho cả thành thị và nông thôn).
Thành quả lớn nhất mà cơ chế lãi suất trần mang lại chính là đã tạo ra các cơ
hội giảm chi phí một cách bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp , tăng
cờng thêm động lực cho guồng máy kinh tế cũng nh góp phần kiềm chế tốt tốc độ
lạm phát.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét