Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010 VỀ THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Theo quy định tại Pháp lệnh cũng như từ kết luận thực tế, Trọng tài chỉ có
thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn Trọng tài để
giải quyết tranh chấp, phải một thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng
quy định của Pháp luật và Quy tắc tố tụng Trọng tài của TTTT.
(1). Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam
Để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, tổ
chức và cá nhân kinh doanh phải có thỏa thuận với nhau một điều khoản về chọn
Trọng tài, chọn TTTT hoặc Trọng tài viên của TTTT để giải quyết.
Tuy nhiên, nếu đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài không
có giá trị pháp lý thì Trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết, khi đó nếu
Trọng tài (cụ thể là TTTT/Trọng tài viên) vẫn tiến hành giải quyết trong trường
hợp này, quyết định trọng tài đó sẽ bị hủy. Một khi không có thỏa thuận trọng tài
hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì Tòa án có quyền ra quyết định hủy quyết
định trọng tài nếu bên yêu cầu chứng minh được rằng Hội đồng Trọng tài đã ra
quyết định trọng tài thuộc một trong hai trường hợp này.
Từ phân tích đó, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được xem là
vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài như một
phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, hay nói cách khác không
có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài có thể là (i) điều khoản về giải quyết tranh chấp đã
được ghi trong hợp đồng hoặc (ii) thỏa thuận riêng, có thể là một Phụ lục đính
kèm tại thời điểm ký Hợp đồng hoặc được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh
chấp. Thời điểm thỏa thuận về giải quyết trọng tài như vậy, theo tác giả, là rất
thoáng và linh hoạt cho các bên khi lực chọn, cho nên các bên chỉ cần quan tâm
vấn đề là nội dung của điều khoản này là như thế nào cho đúng quy định thì việc
giải quyết sẽ được thực hiện tại TTTT đó.
Thực tế, để tránh những rắc rối phát sinh khi xảy ra tranh chấp, các bên nên
lập điều khoản trọng tài mà các TTTT khuyến khích, tạm gọi là các Điều khoản
mẫu (model clauses) mà các Trung tâm Trọng tài thường ghi trên website hay
5
trong các giới thiệu của mình. Cụ thể hơn, các bên có thể thỏa thuận cơ bản rằng
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải
quyết chung thẩm tại [tên của TTTT]” (All disputes originated from this contract
shall be setted by [name of Arbitration Center]).
Các bên liên quan cũng cần chú ý đến hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài, để
thỏa thuận này ràng buộc các bên cũng như ràng buộc các cơ quan tố tụng thì tại
thời điểm có tranh chấp, thỏa thuận này phải còn giá trị pháp lý.
Qua TTTT, tác giả được biết rằng vẫn có nhiều trường hợp các bên đã có
thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này không còn giá trị nữa khi có tranh
chấp mà đến khi TTTT từ chối giải quyết thì các bên mới biết. Có thể hình dung
qua một trường hợp cụ thể, rằng các bên đã có thỏa thuận tại Hợp Đồng nhưng
tại Phụ lục lại lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc tại thời điểm các bên ghi lời khai
khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện; rằng chọn Tòa án, khi đó, theo quy định
của Bộ luật Tố Tụng Dân Sự hiện hành, vụ kiện không thuộc thẩm quyền của
Trọng tài mà thuộc về Tòa án.
Điều đó có nghĩa là, thỏa thuận Trọng tài nên quy định thật rõ ràng.
(2). Các góc nhìn pháp lý
Theo quy định tại Pháp lệnh thì thỏa thuận Trọng tài chỉ có giá trị pháp lý
đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của
các bên.
Theo đó, các hoạt động thương mại sẽ bao gồm nhưng không giới hạn các
ngành nghề được liệt kê sau đây theo quy định của Pháp lệnh, đó là hành vi
thương mại nào mà một bên là cá nhân/tổ chức thực hiện như mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê, xây dựng, tư vấn, kỹ
thuật; li-xăng, đầu tư, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm… Nó bao gồm nhưng
không giới hạn bởi lẽ Pháp lệnh này còn gắn thêm một câu mà xem như việc liệt
kê xem các hành vi trên là không có ý nghĩa, đó là Trọng tài còn giải quyết “các
hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
6
Điều đó có nghĩa rằng, bất cứ hoạt động thương mại nào theo quy định của
pháp luật chung, các bên có thể bắt đầu định hướng việc giải quyết tranh chấp
bằng việc ký kết hợp đồng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài.
Vấn đề tiếp theo là năng lực và thẩm quyền ký kết của các bên, pháp luật
chỉ quy định khi một bên ký kết thỏa thuận Trọng tài không có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Cho dù các cơ quan tài phán Việt
Nam đang có những cách hiểu khác nhau về quy định “năng lực hành vi dân sự”
và “năng lực pháp luật dân sự” trong trường hợp này.
Vấn đề đặt ra là nếu trường hợp một bên không có năng lực dân sự, ví dụ
như khi xảy ra tranh chấp bên đi kiện không chứng minh được sự tồn tại của bên
kia (có thể bị Trọng tài/Tòa án xem là không tồn tại) thì thỏa thuận trọng tài có
vô hiệu hay không, ở đây, pháp lệnh không nêu rõ.
Điều đó có nghĩa là, có thể trong trường hợp này TTTT/Tòa án sẽ xác định
một bên xác lập thỏa thuận không hiện hữu nên thỏa thuận Trọng tài sẽ bị coi là
không có giá trị pháp lý.
Từ thực tế và xét trong mối tương quan với quy định trên, tác giả muốn
định hướng rằng, đối với những đối tác lớn, có uy tín trên thương trường thì có
thể thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài thương mại; còn đối với các đối tác ban
đầu, quy mô kinh doanh và sự ổn định pháp lý chưa rõ ràng thì nên chăng cần
phải xem xét kỹ có nên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài hay không.
Người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định
của pháp luật có thể dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu. Hiện nay việc ký kết hợp
đồng không phải lúc nào cũng do những người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp, mà có thể là bất kỳ người đại diện theo ủy quyền hoặc thậm chí là
trưởng một bộ phận nghiệp vụ thực hiện việc ký kết. Thế thì thỏa thuận Trọng
tài theo Hợp đồng do những người được ủy quyền này có bị xem là vô hiệu hay
không?
Kết quả từ thực tế là tùy vào quan điểm và các nhìn nhận của các
TTTT/Tòa án.
7
Khi xác lập thỏa thuận Trọng tài, các bên nên thỏa thuận rõ ràng về đối
tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện
thấy có vấn đề chưa rõ ràng hoặc sai lệch thì phải thỏa thuận bổ sung nếu không
thì thỏa thuận có thể bị xem là vô hiệu và/hoặc Trọng tài không có thẩm quyền
xét xử.
Theo đó, các bên không nên thỏa thuận chung chung như “nếu có tranh
chấp sẽ nhờ trọng tài Việt Nam giải quyết” hoặc ghi sai tên của TTTT. Cho dù,
trên thực tế việc xác định thỏa thuận trọng tài tùy thuộc vào quan điểm của các
TTTT/Tòa án. Tuy nhiên theo định hướng của tác giả bài viết, các bên khi thỏa
thuận điều khoản chọn TTTT không nên để rơi vào tình trạng ghi sai tên hoặc
ghi không rõ ràng tên TTTT, để tránh rắc rối phát sinh.
Các bên liên quan cũng cần biết một quy định đặc thù về giải quyết bằng
trọng tài tại Việt Nam là việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của
hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài. Tức là, bất kỳ
thay đổi về hợp đồng mà việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận
bằng phương thức trọng tài sẽ không làm ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài, và
Trọng tài hoàn toàn có thể giải quyết quyền lợi của các bên khi hợp đồng vô
hiệu hoặc các điều khoản khác vô hiệu.
Để kết lại các góc nhìn pháp lý về thỏa thuận trọng tài, cần lưu ý là việc
Trọng tài có thẩm quyền không phủ nhận hoàn toàn vai trò của Tòa án bởi dù
sao Trọng tài cũng chỉ là là một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có sự trợ
giúp của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Điển hình nhất là trong việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,
nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị
xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng
tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp
tạm thời.
Tuy nhiên, theo Pháp lệnh thì biện pháp này chỉ được tiến hành “trong quá
trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp”. Nếu Pháp lệnh không quy
8
định khi Trọng tài chưa thụ lý thì các bên có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời hay không?! Hạn chế này đối với các bên trong thực tế sẽ phát sinh
những vấn đề về quyền lợi như việc một bên có thể tẩu tán/cất giấu tài sản để
tránh thi hành quyết định. Trong khi đó thỏa thuận ký kết ban đầu rất khó để các
bên có thể lường trước và quy định cụ thể. Do vậy, trong khi chờ đợi Nhà nước
có các quy định cụ thể hơn về giải pháp này, bên bị xâm hại nên khởi kiện ra
Trọng tài sớm hơn, thậm chí tận dụng các khoảng thời gian thương lượng thực
hiện đồng thời với việc yêu cầu Tòa án can thiệp
4
1.3. Các vấn đề pháp lý về thoả thuận trọng tài
1.3.1. Hình thức của thoả thuận trọng tài
Theo Luật Mẫu về Trọng tài thương mại: “Thoả thuận trọng tài phải được
lập thành văn bản. Thoả thuận là văn bản nếu nó nằm trong một văn bản được
các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, telegrams hoặc các hình
thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thoả thuận đó hoặc qua trao đổi về
đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một
bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tới một
văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên thoả thuận trọng tài với điều kiện
hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng
này”
5
.
Luật Trọng tài Anh tiến một bước rất xa trong việc quy định phạm vi thỏa
thuận bằng văn bản. Theo đó, có một thỏa thuận bằng văn bản khi: thỏa thuận
được lập bằng văn bản (cho dù nó có được các bên ký hay không); thỏa thuận
được lập thông qua việc trao đổi các thông tin bằng văn bản, hoặc thỏa thuận
được chứng minh bằng văn bản. Thậm chí, trong quá trình tố tụng trọng tài hoặc
tố tụng tư pháp,nếu nếu một thoả thuận không được xác lập bằng văn bản nhưng
4
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam (http://www.baomoi.com/Info/Giai-quyet-tranh-chap-bang-
Trong-tai-thuong-mai-tai-Viet-Nam-phan-1/45/3546745.epi)
5
Điều 7 Luật Mẫu
9
được một bên viện dẫn và bên kia không phủ nhận thì việc trao đổi đó tạo thành
một thỏa thuận bằng văn bản có giá trị pháp lý .
1.3.2. Nội dung của thoả thuận trọng tài
Về nội dung, hầu hết luật các nước đều chỉ đơn thuần quy định điều khoản
trọng tài phải thể hiện thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài.
6
Thỏa thuận này
có thể được lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Ngoài ra, luật pháp các
nước không quy định chi tiết nội dung cụ thể của thỏa thuận trọng tài. Điều đó
để các bên tự quyết định, miễn là phải thỏa mãn yêu cầu là một “thỏa thuận”
theo luật pháp về hợp đồng của nước có liên quan và phù hợp với yêu cầu của
pháp luật nước đó
Luật áp dụng đối với TTTT trong trọng tài thương mại quốc tế
Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại
quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật
điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng
cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật
điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều
chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên
quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi,
và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ
giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?
1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của
nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp
đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh
chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ
không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng
sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận
trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:
6
Điều 7 của Luật Mẫu; Điều 6 Luật Trọng tài của Anh 1996; Điều 1442 Luật Trọng tài của Pháp; Điều 1029
Luật Trọng tài của Đức.
10
Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài
được đưa ra trước hội đồng trọng tài
Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới
hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng
chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa
dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay
trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có
trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền
không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong
trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa
chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận
trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy,
thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau. Có ba hướng
giải quyết chính sau đây:
Thứ nhất, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng
sự chọn luật của các bên, thoả thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của
nước nơi tiến hành trọng tài (place of arbitration). Nguyên tắc này được thể hiện
trong nhiều phán quyết của toà án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công
nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc
Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA. Trong vụ Baques Centroamericanos v. Petroleo SA
(1988), Hội đồng đã tuyên rằng: Luật Mỹ sẽ được áp dụng để xem xét hiệu lực
của thoả thuận trọng tài vì trọng tài đã được tiến hành tại New York.
Thứ hai, một số trọng tài lại có quan điểm khác, theo họ, thoả thuận trọng
tài được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp. Phán quyết
5/9/1977 của Hội đồng trọng tài thuộc Hiệp hội buôn bán dầu, chất béo và hạt
chứa dầu Hà Lan ghi rõ: “… luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp cũng được
áp dụng đối với việc xem xét hiệu lực của điều khoản trọng tài.”
Thứ ba, theo quan điểm khác, một số trọng tài lại tin tưởng vào các quy tắc
trọng tài của tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp.
11
Họ cho rằng, cần phải dựa vào những quy tắc này để điều chỉnh các vấn đề của
thoả thuận trọng tài. Vụ việc số 5486 năm 1989 do trọng tài ICC giải quyết là
một tranh chấp phát sinh giữa các bên liên doanh: một bên là công ty Bỉ và phía
bên kia là công ty Tây Ban Nha về hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Toà án
trọng tài ICC đã ra phán quyết về luật điều chỉnh điều khoản trọng tài như sau:
“Vì mục đích của tố tụng trọng tài, các bên đã thoả thuận áp dụng các quy tắc
trọng tài ICC… và việc làm như vậy, biến các quy tắc của một tổ chức trọng tài
quốc tế thành nguồn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài… do đó, hiệu lực của
điều khoản trọng tài phải được xác định dựa vào các quy tắc trọng tài ICC.”
Trường hợp 2: Khi việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài được
đặt ra
Vào giai đoạn này, nguyên tắc thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật
do các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng
như các quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài
độc lập với phần còn lại của hợp đồng (điều này được thừa nhận rộng rãi trên
thế giới), nên các bên có quyền thoả thuận một luật riêng để điều chỉnh điều
khoản trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nếu
muốn một luật riêng như vậy, họ cần thoả thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong
hợp đồng hoặc một văn bản riêng. Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thoả
thuận áp dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay
luật điều chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thoả thuận dưới dạng một điều
khoản hợp đồng).
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống
pháp luật thừa nhận nguyên tắc luật của nước nơi phán quyết trọng tài được
tuyên sẽ thay thế. Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về
công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài
trên thế giới. Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán
quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển
nếu bên bị chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài
12
không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được
thoả thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”. Khoản
II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài
có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả
thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu
thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”. Nội
dung tương tự cũng được ghi nhận tại điều 103(2)(b) Luật Trọng tài Anh 1996:
“Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng
minh được rằng, thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên
đã chấp thuận nó, nếu không có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết
trọng tài được tuyên.”
Hoặc theo điều 34(2)(a)(i) luật mẫu trọng tài UNCITRAL: “Một quyết định
chỉ có thể bị toà án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận
nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc
theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên
không ghi rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước
NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
2. Khi nghiên cứu về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài cũng cần phân
biệt với luật điều chỉnh năng lực chủ thể các bên ký kết thoả thuận trọng tài
(capacity). Đây là hai vấn đề khác nhau nhưng có mối liên quan mật thiết với
nhau, một thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu các bên thoả thuận nó có đầy
đủ tư cách chủ thể. Vậy tư cách chủ thể của các bên tham gia thoả thuận trọng
tài được xác định theo cơ sở pháp lý nào?
Trong khi các bên tham gia trọng tài được thoả thuận về luật điều chỉnh nội
dung hợp đồng và thoả thuận trọng tài thì họ lại không được phép làm như vậy
với việc điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài. Trên thực tế,
việc xác định năng lực chủ thể ký kết hợp đồng và thoả thuận trọng tài là như
nhau và thường được đặt ra trong hai trường hợp: thứ nhất, khi toà án một nước
xem xét yêu cầu huỷ quyết định trọng tài hay từ chối công nhận, thi hành quyết
13
định trọng tài; thứ hai, khi trọng tài xem xét thoả thuận trọng tài có hiệu lực
không.
Trong trường hợp thứ nhất, tại điều V(1)(a) Công ước New York 1958 quy
định: toà án có thể từ chối công nhận và thi hành quyết định trọng tài nếu theo
luật áp dụng đối với các bên, họ không có đủ năng lực. Một quy định như vậy
không chỉ rõ luật nào sẽ được áp dụng cho vấn đề xác định năng lực chủ thể mà
để mở một khả năng áp dụng luật đa dạng. Tương tự như vậy, Điều 34(2)(a) luật
mẫu UNCITRAL quy định: quyết định trọng tài bị toà án huỷ khi một trong các
bên ký thoả thuận trọng tài không đủ năng lực ký kết thoả thuận trọng tài đó. Cả
Công ước NewYork và luật mẫu mặc dù không chỉ rõ nhưng đều có khuynh
hướng dựa vào các quy tắc xung đột của nước có toà án đang có thẩm quyền giải
quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận
trọng tài (conflict of law rules of the forum). Đại đa số các nước hiện nay đều sử
dụng phương pháp chọn luật này cho năng lực chủ thể, và do đó, các quy tắc
xung đột được ghi nhận trong tư pháp quốc tế của nước có toà án đang có thẩm
quyền giải quyết vụ việc sẽ được áp dụng. Các quy tắc này thường là: áp dụng
luật của nước mà các bên mang quốc tịch hay các bên cư trú đối với cá nhân, và
luật quốc tịch đối với pháp nhân.
Ở trường hợp thứ hai, các trọng tài viên sẽ giải quyết vấn đề năng lực chủ
thể ký kết thoả thuận trọng tài như thế nào? Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng,
các trọng tài viên không bắt buộc phải áp dụng các quy tắc xung đột của nơi tiến
hành xét xử, bởi vì họ không phải là “các phương tiện của hệ thống pháp luật
quốc gia như toà án quốc gia”. Điều này không có nghĩa là các trọng tài viên
không quan tâm tới các quy tắc xung đột quốc gia nơi xét xử trọng tài, mà
khuynh hướng chung hiện nay là trọng tài sẽ kết hợp các quy tắc xung đột quốc
gia với các quy tắc xung đột trong các điều ước quốc tế về trọng tài được thừa
nhận rộng rãi trên thế giới để tìm ra một quy tắc xung đột chung cho việc xác
định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài . Quy tắc chung này thường là
luật quốc tịch của các bên (đối với cả cá nhân và pháp nhân).
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét