5
1,2, C.Mac-Ph Ăng ghen tuyển tập, tập 6.
chương trình hành động cho 20 năm, vấn đề trọng tâm của chương trình hành
động là đề ra chiến lược mới; Trong đó nhấn mạnh đến mới liên hệ tổng thể
giữa dân số và phát triển; Đặt ra các mục tiêu đáp ứng các nhu cầu cá nhân của
cả phụ nữ và nam giới, chứ không giới hạn bởi các mục tiêu nhân khẩu học
thuần tuý, như giảm mức sinh hay thúc đẩy quy mô gia đình ít con.
Nguyên tắc của chương trình hành động khẳng định con người là trung tâm
của những mối quan tâm đối với phát triển bền vững; Vì con người là nguồn lực
quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc. Quyền phát triển phải được
thực hiện để đáp ứng được các mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia
ngay hiện tại và trong tương lai. Loại trừ những hình mẫu sản xuất, tiêu dùng
thiếu bền vững;
đồng thời tăng cường các chính sách thích hợp, kể cả các chính sách liên quan
đến dân số. Thực hiện công bằng và bình đẳng giới, nâng cao quyền năng cho
phụ nữ, loại bỏ tình trạng bạo lực chống lại phụ nữ. Đảm bảo cho phự nữ có khả
năng kiểm soát vấn đề sinh đẻ của mình, đây chính là hòn đá tảng của chương
trình dân số và phát triển. Các nước cần tiến hành các biện pháp thích hợp để
đảm bảo tiếp cận rộng rãi với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung, trong
đó có sức khoẻ sinh sản-KHHGĐ và sức khoẻ tình dục dựa trên cơ sở bình đẳng
nam, nữ. Các nguyên tắc cũng khẳng định lại quyền của các cặp vợ chồng và cá
nhân được quyền tự quyết định số lần sinh và khoảng cách giữa các lần sinh,
đồng thời có quyền được yêu cầu cung cấp các thông tin và các phương tiện
KHHGĐ để họ thực hiện điều này. Các nguyên tắc cũng nhấn mạnh gia đình là
đơn vị cơ bản của xã hội, nên cần thường xuyên được củng cố, đồng thời công
nhận các hình thức khác nhau, tuỳ thuộc theo các nền văn hoá, kinh tế, chế độ
chính trị - xã hội khác nhau.
3.3.Quan điểm của đảng và nhà nước ta:
Nghị quyết IV, ban chấp hành TW Đảng khoá VII chỉ rõ “ sự gia tăng dân
số qúa nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều
kiện phát triển về mặt chí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng
này cứ tiếp tục cứ diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước
những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt”.
Vì vậy làm tốt công tác Dân số-KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con giảm
nhanh tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan
5
6
trọng và bức xúc đối với nước ta. Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ quan điểm
chỉ đạo như sau.
Công tác dân số- KHHGĐ là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển
đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta, là một
yếu tố cơ bản để nâng cao nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng
gia đình và của toàn xã hội.
Giải pháp cơ bản thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ là vận động, tuyên
truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân; Có
chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo
động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện KHHGĐ.
Đầu tư cho công tác Dân số-KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu qủa trực tiếp
rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác Dân số-KHHGĐ,
đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của
quốc tế.
Huy động lực lượng toàn xã hội tham gia công tác Dân số-KHHGĐ, đồng
thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục
tiêu, đảm bảo cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu qủa đến tận
người dân.
Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa
quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức
thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ theo chương trình
4. Khái quát về hệ thống chính sách dân số Việt Nam trong thời gian qua.
Theo thời gian, dựa vào đặc điểm tình hình phát triển, có thể chia quá trình
hình thành và phát triển chính sách dân số thành 3 thời kỳ:
Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1975
Thời kỳ này đất nước tạm bị chia cắt thành hai miền, chương trình dân số
và KHHGĐ mới chỉ triển khai ở miền Bắc với những nội dung chủ yếu được
Chính phủ ban hành trong ba văn bản quan trọng:
- Quyết định số 216/CP ngày 26-12-1961 của Hội đồng Chính phủ về việc
sinh đẻ có hướng dẫn.
- Chỉ thị số 99/TTg ngày 13-05-1970 của Hội đồng Chính phủ về cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch.
- Ngay từ đầu các văn bản đã chú ý tới số lượng, chất lượng dân số và sức
khoẻ của nhân dân, hạnh phúc của gia đình: “Vì sức khoẻ của bà mẹ, vì hạnh
phúc và hoà thuận trong gia đình và để nuôi dậy con cái chú đáo”.
Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1984
6
7
Sau ngày thống nhất đất nước, số dân cả nước đã xấp xỉ 48 triệu người,
gần gấp đôi số dân năm 1955. Trong thời kỳ này, công tác dân số và KHHGĐ
được triển khai trong phạm vi cả nước, với xu hướng đẩy mạnh hơn nữa cuộc
vận động sinh đẻ có kế hoạch thông qua hai chỉ thị của Chính phủ.
- Chỉ thị số 265/CP ngày 12-8-1981 của Hội đồng Chính phủ về đẩy mạnh
cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm vi cả nước.
- Chỉ thị số 29/HĐBT ngày 12-8-1-1981 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy
mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm (1981-1985).
Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được
phát động sôi nổi và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc để chuẩn bị cho
sự phục hưng nền kinh tế thông qua Đại hội lần thứ IV và thứ V của Đảng.
Thời kỳ từ năm 1984 đến nay.
Trong thời kỳ này, đặc biệt là năm 1993 đến nay, công tác DS-KHHGĐ có
bước phát triển vượt bậc và đạt đến đỉnh cao về nội dung, cách làm, kinh phí và
tổ chức bộ máy thực hiện. Nhiều văn bản quan trọng về công tác DS-KHHGĐ
đã được ban hành, trong đó có các văn bản chủ yếu sau:
- Quyết định số 162/HĐBT ngày 18-10-1988 của Hội đồng Bộ trưởng về
chính sách DS-KHHGĐ.
- Nghị định số 193/HĐBT ngày 19-6-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và chế độ làm việc của Uỷ
ban quốc gia Dân số-KHHGĐ.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII tháng 1-1993 về chính sách DS-KHHGĐ.
-Quyết định số 270/TTg ngày 3-6-1993 của Thủ tướng Chính phủ về về
phê duyệt chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000.
-Nghị định 42/CP ngày 21-6-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức bộ máy và lề nối làm việc của Uỷ ban quốc gia DS-
KHHGĐ.
Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng về
đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS-KHHGĐ.
- Chỉ thị số 37/TTg ngày 17-1-1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy
nhanh thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000.
Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khoá VII) về chính sách
dân số, chiến lược dân số và kế hoạch gia đình đến năm 2000; Chiến lược dân
số Việt Nam 2001-2010 đã đánh dấu một bước phát triển mới, cao hơn, hệ
thống hơn, sấu sắc hơn về tư tưởng của Đảng đối với vấn đề dân số. Để tỏ rõ sự
7
8
quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu về phát triển dân số; Ngày 09-01-2003
Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh dân số; Ngày 22-03-2005 Bộ
chính trị ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; Ngày 10-01-2006 Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ban hành chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW cuả Bộ chính trị; Ngày
03-10-2006 Chính phủ ban hành nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành
vi vi phạm sử phạt hành chính về Dân số, gia đình và Trẻ em. Các văn bản này
là mốc quan trọng trên con đường tiến tới mục tiêu ổn định dân số. Các văn bản
này phản ánh một cách toàn diện chính sách Dân số Việt Nam, nêu rõ mục tiêu,
quam điểm, trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện
chính sách DS-KHHGĐ.
II: Công tác DS-KHHGĐ.
1: Những nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác DS-KHHGĐ
Công tác Dân số-KHHGĐ thực chất là quản lý các quá trình dân số, như sinh,
chết, di cư, do vậy các nhân tố tác động tới mức sinh, chết, di cư đều ảnh hưởng
sâu sắc tới công tác Dân số-KHHGĐ. Để công tác Dân số-KHHGĐ đạt hiệu qủa
mong muốn, ta cần hiểu đúng và đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng để có biện pháp
tác động phù hợp.
1.1.Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức sinh:
Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợ
chồng, mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi một loạt yếu tố khác như tuổi kết hôn,
khoảng cách giữa các lần sinh, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ý
muốn và số con của các cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, địa vị
của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, việc sử dụng các biện pháp tránh
thai…
1.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức chết:
Chết là hiện tượng tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơ
thể sống. Tuy nhiên mức chết phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội; đặc biệt là trình độ đạt được về mặt y học.
Trong lĩnh vực dân số, sinh và chết là hai yếu tố chủ yếu của quá trình tái
sản xuất dân số. Sinh và chết có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; thông
thường đối với các nước chậm phát triển, giai đoạn đầu tỷ lệ chết tỷ lệ thuận với
8
9
tỷ lệ sinh ( mức sinh cao và mức chết cũng cao). Mức chết có ảnh hưởng rất lớn
tới quy mô, cơ cấu dân số/
1.3. Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới di dân:
Cùng với sinh và chết, di dân cũng ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ phát
triển dân số và những đặc trưng về cấu trúc của dân số. Di dân là hiện tượng rất
phức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, như văn hoá, kinh tế, chính trị - xã
hội.
1.4. Nhóm chính sách dân số:
Trong bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác dân số - KHH GĐ thì
nhóm chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến tất
cả các nhân tố của ba nhóm trên nhằm quản lý dân số, điều tiết mức sinh, giảm
nhanh mức chết và ổn định dân cư.
+ Chính sách tác động tới mức sinh: chính sách này được chia thành hai
loại: khuyến khích và hạn chế sinh.
Chính sách khuyến khích sinh: Trong thời xa xưa, khi mức chết còn quá
cao, hầu hết các nước đều khuyến khích sinh. Coi dân số đông là sức mạnh của
quốc gia, kích thích sản xuất phát triển, tăng của cải vật chất cho xã hội. Hiện
nay, những nước phát triển dân số tăng chậm, khả năng phát triển sản xuất lớn
nên thường khuyến khích sinh.
Việt Nam là nước có nhiều tộc người, trong đó có những tộc người chỉ có
vài trăm người, do vậy nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích những tộc người
này tăng mức sinh để đảm bảo duy trì và bảo tồn nòi giống.
Chính sách hạn chế sinh: đa số các nước đang phát triển hiện nay do dân số
tăng quá nhanh, khả năng phát triển sản xuất có hạn, đời sống nhân dân còn
thấp đều tìm cách để hạn chế mức sinh trong đó có Việt Nam.
+ Chính sách tác động tới giảm tỷ lệ tử vong: Đây là mục tiêu phấn đấu
của mọi quốc gia. Trong chương trình hành động toàn thế giới về lĩnh vực dân
số đã coi nâng cao tuổi thọ bình quân của người dân trên cơ sở giảm tỷ lệ tử
vong, đặc biệt là tỷ lệ tử vong ở trẻ em là mục tiêu hàng đầu. Nó không chỉ có ý
nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội và nhân văn. Để giảm tỷ lệ tử
vong các nước quan tâm phát triển thành tựu y học, mở rộng mạng lưới dịch vụ
y tế, phòng trừ dịch bệnh, cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, cải
thiện điều kiện làm việc.
+ Các chính sách tác động tới di dân: Tuỳ từng thời kỳ, từng quốc gia khác
nhau, Nhà nước phải có chính sách cụ thể để điều tiết dòng di dân. Khuyến
khích người dân di chuyển đến những nơi có khả năng mở rộng và phát triển
9
10
sản xuất, nhưng thiếu sức lao động, mật độ dân số thấp. Hạn chế di chuyến đến
những nơi mật độ dân số quá cao, vượt quá nhu cầu khả năng sản xuất và đời
sống. Các biện pháp của chính sách di dân có thể là những biện pháp trực tiếp
thông qua những đạo luật và các quy chế về nơi ở, các thủ tục di chuyển… Các
biện pháp gián tiếp như khuyến khích vật chất thông qua các loại thuế khác
nhau ở các vùng lãnh thổ khác nhau.
Ngoài ra còn có các chính sách liên quan đến chất lượng dân số, như chính
sách phát triển y tế, giáo dục, nhà ở, nhà ở và phúc lợi công cộng.
2. Nội dung công tác Dân số- KHHGĐ.
Căn cứ vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các hướng dẫn của
ngành dọc cấp trên, công tác Dân số-KHHGĐ huyện Bảo Yên được triển khai
với các nội dung như sau:
2.1. Công tác tham mưu:
- Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành xây dựng và trình Huyện Uỷ,
HĐND,UBND ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định nhằm chỉ đạo
thống nhất và triển khai đồng bộ các nội dung công tác Dân số-KHHGĐ trên
địa bàn; Đồng thời huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào các
hoạt động Dân số-KHHGĐ.
2.2. Về tổ chức thực hiện:
- Căn cứ vào hướng dẫn của nghành dọc cấp trên, UBDS,GĐ&TE huyện
tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm, kế hoạch phối hợp hoạt động với
các ban, ngành, đoàn thể trình UBND huyện và tổ chức thực hiện sau khi đã
được phê duyệt.
- Đề xuất ý kiến với UBDS,GĐ&TE tỉnh, UBND huyện củng cố, kiện toàn
bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ từ huyện đến cơ sở, đảm bảo đủ biên chế
và từng bước nâng cao chất lượng để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác.
- Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp hướng dẫn chỉ đạo các cơ sở
thường xuyên làm tốt các nhiệm vụ sau:
+ Thường xuyên làm tốt công tác quản lý về biến động dân số:
Định kỳ tháng, quý thu thập các thông tin về sinh, tử, chuyển đi chuyển
đến, các biến động về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của các đối
tượng để cập nhật đầy đủ vào sổ hộ gia đình; Đồng thời nhập thông tin vào
phiếu thu tin gửi cho huyện, để huyện cập nhật thông tin vào kho dữ liệu điện tử
của huyện.
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền vận
động nhân dân thực hiện KHHGĐ. Sau tuyên truyền tổ chức cho các đối tượng
10
11
đang ký và lập danh sách những đối tượng đăng ký thực hiện các biện pháp
KHHGĐ để phối hợp với ngành y tế tổ chức cung ứng các dịch vụ KHHGĐ cho
đối tượng.
+ Định kỳ giao ban hàng tháng để đánh giá công tác tháng, đề ra phương
hướng nhiệm vụ cho tháng sau và cùng nhau hoàn thiện hệ thống báo cáo gửi
cho huyện theo đúng thời gian định.
+ Các cộng tác viên hàng tháng phải đến thăm các hộ gia đình đển nắm
thêm thông tin và cấp phát phương tiện tránh thai phi lâm sàng cho đối tượng sử
dụng, theo phương châm quản lý đến từng hộ gia đình, từng thôn bản, tổ dân
phố.
- Tổ chức kiểm tra, giám sát và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công
dân về thực hiện chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan tới công
tác Dân số-KHHGĐ trên điạ bàn theo quy định của pháp luật.
- Quản lý tốt các nguồn lực, thực hiện phân bổ công khai và hướng dẫn các
đơn vị thực hiện có hiệu quả, chống lãng phí, tham nhũng.
- Phối hợp với các ngành, các cấp làm tốt công tác tuyên truyền vận động
nhân dân thực hiện KHHGĐ và cung cấp đầy đủ kịp thời cho các đối tượng.
Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo quy định. Tổ chức thu thập thập thông
tin để triển khai kho dữ liệu điện tử về dân số của huyện.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND huyện phân công.
III. Một số tiêu thức đánh chất lượng công tác DS-KHHGĐ.
1. Tiêu thức:
Công tác DS-KHHGĐ là lĩnh vực hết sức rộng lớn, các tiêu thức đánh giá
thường là tiêu thức mang tính tổng hợp, do vậy việc thu thập thông tin, dữ liệu
tính toán gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với tuyến huyện. Để có căn cứ đánh
giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm, UBDS,GĐ&TE tỉnh giao bốn chỉ
tiêu cơ bản sau:
- Giảm tỷ suất sinh thô;
- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên;
- Giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên;
- Chỉ tiêu về số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp
tránh thai.
2. Mức độ thực hiện so với mục tiêu chính sách.
Trong bốn chỉ tiêu trên, duy nhất chỉ có chỉ tiêu thứ tư hàng năm đều đạt so
với chỉ tiêu kế hoạch giao, ba chỉ tiêu còn lai có năm đạt hoặc vượt, có năm
11
12
không đạt, nhưng nếu tính theo giai đoạn thì tất cả các chỉ tiêu đều đạt so với kế
hoạch giao.
Tuy nhiên để đạt được so với mực tiêu chính sách dân số đề ra là một việc
hết sức khó khăn, bởi vì xuất phát điểm thực hiện chương trình DS-KHHGĐ,
các chỉ tiêu này đểu ở mức rất cao. Đến năm 2006 tỷ suất sinh vẫn còn ở mức
16,63‰; Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là 14,14%; Tỷ lệ phát triển dân số tự
nhiên là 1,3%. Để đạt được mực tiêu theo chính sách đề ra, công tác DS-
KHHGĐ huyện Bảo Yên cần có nhiều cố gắng và tìm ra được các giải pháp phù
hợp, đồng thời phải đảm bảo được các điều kiện cần thiết để triển khai tốt các
giải pháp đề ra.
CHƯƠNG II
Thực trạng công tác Dân số-KHHGĐ
huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
I.Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ ở Việt Nam.(*)
1. Tình hình thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000
1.1 Kết quả đạt được
Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, được Thủ tướng chính phủ phê
duyệt ngày 03 tháng 6 năm 1993, đã được triển khai có hiệu qủa. Đảng và Nhà
nước cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu mà chương
trình Dân số Việt Nam đã đạt được trong những năm qua. Uỷ ban quốc gia Dân
số-KHHGĐ được Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng
huân chương lao động hạng nhất. Tổ chức Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng dân
số 1999 cho Việt Nam. Thành tích nổi bật nhất sau 7 năm thực hiện chiến lược
là:
1.1.1. Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra:
Mục tiêu chiến lược Dân số-KHHGĐ đến năm 2000 là “ giảm cho được
tổng tỷ suất sinh xuống 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82
triệu người vào giữa năm 2000 để đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm
2015”. Thực tế cho thấy trong giai đoạn từ 1989 đến 1992, tỷ lệ không giảm,
nhưng từ khi thực hiện chiến lược Dân số - KHHGĐ đến năm 2000, tức là từ
năm 1993 đến nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con năm 1989
xuống còn 2,67 con trong thời kỳ 1992-1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm
1999. Quy mô Dân số ở mức khoảng 78 triệu người vào năm 2000. Kết quả
12
13
* Tham khảo và trích dẫn chiến lược dân số VN 2001-2010.
này đã tạo điều kiện để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015, sớm hơn 10 năm
so với mục tiêu mà nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng
khoá VII đề ra. Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh về cơ bản đã được khống chế,
nhờ đó mà áp lực của quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã bắt
đầu được giảm nhẹ. Do giảm tốc độ gia tăng dân số, chúng ta đã tiết kiệm được
một khối lượng các nguồn lực mà lẽ ra phải chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục,
chữa bệnh và việc làm.
1.1.2 Nhận thức hành động của toàn xã hội về DS-KHHGĐ được nâng lên rỡ
rệt.
Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã coi
trọng công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và xã hội.
Quan điểm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã chuyển biến tích cực
theo hướng ngày càng có nhiều người chấp nhận kết hôn muộn, đẻ muộn, đẻ
thưa, đẻ ít để nuôi dậy con khoẻ và dậy con ngoan. Đông đảo phụ nữ đã hiểu
rằng thực hiện KHHGĐ sẽ giúp họ có cơ hội giữ gìn sức khoẻ, phát triển tài
năng và có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, nhằm
nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Nhờ có sự chuyển biến về nhận thức, đã có sự thay đổi lớn về hành vi thực
hiện KHHGĐ trong dân. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng
biện pháp tránh thai tăng nhanh, từ 53,75% năm 1993 lên 75,31% năm 1997,
bình quân mỗi năm tăng 5,4%, vượt kế hoạch đề ra là 2% mỗi năm. Các biện
pháp tránh thai có hiệu qủa cao, có thời gian tác dụng lâu dài, như đình sản, đặt
vòng, thuốc tiêm, thuốc cấy dưới da… ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ
cấu các biện pháp tránh thai hiện đang được sử dụng.
1.1.3 Hệ thống tổ chức làm công tác Dân số-KHHGĐ bước đầu được kiện toàn.
Tổ chức bộ máy làm công tác Dân số-KHHGĐ được hình thành từ trung
ương đến cơ sở và từng bước được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và phương thức hoạt động. Cơ quan DS-KHHGĐ các cấp đã thực sự trở
thành một tổ chức tham mưu tích cực cho lãnh đạo Đảng và chính quyền các
cấp về công tác Dân số-KHHGĐ. Đội ngũ cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ
trong toàn hệ thống được tăng cường về cả số lượng và chất lượng. Mạng lưới
cộng tác viên dân số được bố trí đến tận thôn, bản, tổ dân phố theo phương thức
quản lý tới tận hộ gia đình.
13
14
1.1.4 Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được mở rộng và đẩy mạnh.
Huy động được đông đảo lực lượng xã hội và các cá nhân tham gia vào
tuyên truyền, vận động thực hiện Dân số-KHHGĐ dưới nhiều hình thức, như
truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp của đội ngũ tuyên truyền viên,
các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng
tác viên dân số, cán bộ y tế… Các mô hình truyền thông đã được xây dựng và
từng bước tiếp cận được với các nhóm đối tượng. Các sản phẩm truyền thông đã
đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Giáo dục dân số được đưa vào
các cấp học phổ thông, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dậy
nghề, trường chính trị và các trường của lực lượng vũ trang.
1.1.5 Vịêc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của
người sử dụng.
Hệ thống cung cấp các dịch vụ KHHGĐ công cộng được củng có và phát
triển từ trung ương đến cơ sở. Các nhu cầu cơ bản về dịch vụ KHHGĐ đã được
đáp ứng; Có 100% cơ sở dịch vụ KHHGĐ cấp tỉnh và 93% cở sở y tế cấp huyện
làm được thủ thuật đình sản; 100% cơ sở dịch vụ y tế cấp huyện và 68,7% trạm
y tế xã đặt được vòng tránh thai. Hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chính
phủ được huy động và tạo điều kiện tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ
KHHGĐ. Các mô hình cung cấp dịch vụ tránh thai lâm sàng dựa vào cộng
đồng tiếp thị xã hôị, đội dịch vụ lưu động …. được triển khai với mục đích đưa
dịch vụ KHHGĐ đến tận người sử dụng.
1.1.6 Một số chính sách đã được ban hành và được thực hiện có hiệu qủa:
Chính sách khuyến khích lợi ích trực tiếp cho những người tự nguyện chấp
nhận KHHGĐ và người cung cấp dịch vụ KHHGĐ đã thúc đẩy sự tham gia của
cán bộ và nhân dân vào chương trình kế hoạch hoá gia đình. Nhiều chính sách
kinh tế-xã hội được ban hành phục vụ sự nghiệp đổi mới đã tạo môi trường
thuận lợi và tác động mạnh mẽ tới việc thực hiện mục tiêu Dân số-KHHGĐ.
1.2. Hạn chế tồn tại:
1.2.1 Chương trình Dân số-KHHGĐ còn có sự mất cân đối:
Do quá bức súc về sự gia tăng dân số quá nhanh ảnh hưởng tới sự phát
triển kinh tế-xã hội và cải thiện đời sống của nhân dân, chương trình Dân số-
KHHGĐ trong thời gian này mới chỉ tập chung vào giảm mức sinh thông qua
KHHGĐ nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân số, chưa chú trọng đến
nhiều khía cạnh khác của vấn đề dân số, như chất lượng, cơ cấu và phân bố dân
cư. Các nội dung của việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản chưa được chú trọng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét