b-/ Hệ thống công cụ can thiệp:
Phơng án can thiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song nó phụ thuộc phần lớn
vào chế độ tỷ giá hiện hành. Mỗi chế độ ngoại hối đều có phơng án điều chỉnh can
thiệp thích hợp. Trên thực tế, đã và đang tồn tại nhiều phơng pháp khác nhau: ph-
ơng pháp lãi suất chiết khấu, các nghiệp vụ thị trờng hối đoái, quĩ bình ổn hối
đoái, giảm giá hoặc tăng giá đồng nội tệ,
Phơng pháp lãi suất chiết khấu: Đây là phơng pháp thờng đợc sử dụng để điều
chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trờng. Khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức báo động cần
phải can thiệp thì NHTƯ nâng cao lãi suất chiết khấu. Do lãi suất chiết khấu tăng, lãi
suất cho vay trên thị trờng cũng tăng lên. Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trờng
thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn. Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ
bớt đi, làm cho tỷ giá không có cơ hội tăng nữa.
Tuy nhiên, chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất định, vì
quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động một cách qua lại gián tiếp,
chứ không phải quan hệ trực tiếp nhân quả. Các yếu tố để hình thành lãi suất và tỷ
giá là không giống nhau, do đó những biến động của lãi suất không nhất thiết kéo
theo biến động của tỷ giá. Lãi suất cao có thể thu hút đợc vốn ngắn hạn từ nớc
ngoài, nhng nếu tình hình kinh tế - chính trị - xã hội không ổn định thì khó có thể
thực hiện đợc vì vấn đề an toàn vốn phải đặt lên trên hết. Khủng hoảng 1971-1973 ở
Mỹ là một ví dụ. Mặc dù lãi suất trên thị trờng New-York cao gấp rỡi thị trờng
London, gấp ba thị trờng Frankfurk nhng vốn ngắn hạn không đợc chuyển vào Mỹ
mà lại đợc đa đến Tây Đức và Nhật Bản.
Các nghiệp vụ thị trờng hối đoái. Thông qua các nghiệp vụ mua-bán ngoại
tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trong những biện pháp rất quan trọng của Nhà
nớc để giữ vững sự ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. Đây là biện pháp trực
tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái.
Một sự can thiệp hữu hiệu trong đó đồng tiền trong nớc đợc bán để mua tài
sản nớc ngoài đa đến: (1) Thu thêm dự trữ quốc tế; (2) Một sự tăng trong cung tiền
tệ; (3) Một sự sụt giá của đồng nội tệ. Ngợc lại, khi đồng tiền trong nớc đợc mua
bằng cách bán tài sản nớc ngoài đa đến: (1) Dự trữ quốc tế giảm; (2) Cung tiền tệ
giảm; (3) Đồng tiền trong nớc tăng giá.
Tuỳ điều kiện mỗi quốc gia mà việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ này có sự
khác nhau về phạm vi, qui mô tác động. Với những nớc có nền kinh tế phát triển
cao, các nghiệp vụ thị trờng hối đoái đợc thực hiện trên qui mô rộng lớn, đôi khi
mở ra trên phạm vi cả một khu vực, thậm chí thế giới.
5
Việc lựa chọn các thời điểm cần mua, cần bán ngoại tệ trên thị trờng với tỉ
giá nào để đạt đợc mục tiêu điều chỉnh là những hoạt động có ý nghĩa quyết định.
Nếu chủ quan, thiếu cân nhắc đầy đủ kỹ càng việc lựa chọn này thì hậu quả nhiều
khi khó mà lờng hết đợc.
Điều chỉnh tỷ giá theo phơng pháp này, Chính phủ thờng gặp phải phản ứng
trái ngợc nhau của các doanh nghiệp cũng nh các tầng lớp dân c trong xã hội bắt
nguồn tự lợi ích kinh tế. Những mâu thuẫn này thờng xảy ra giữa những nhà xuất
khẩu và nhập khẩu giữa những ngời đang nắm giữ trong tay số lợng lớn ngoại tệ và
những ngời trong túi chỉ có nội tệ.
Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, một điều kiện không thể thiếu là
Chính phủ phải có một lợng dự trữ ngoại tệ đủ sức để can thiệp vào thị trờng khi
cần thiết.
Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái: Trong điều kiện tình hình giá cả thị trờng luôn
không ổn định, thậm chí hay xảy ra các biến động lớn, các nớc thờng sử dụng quỹ
dự trữ bình ổn hối đoái nh là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối
đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái th ờng là:
- Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia (nh Anh, Hà Lan, )
- Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái (nh Pháp, Mỹ, Thuỵ Sỹ, )
Hạn chế của công cụ này là nó chỉ tác động lớn khi khủng hoảng ngoại tệ ít
nghiêm trọng. Hơn nữa, việc tạo lập đợc quĩ bình ổn hối đoái đòi hỏi các quốc gia
phải có một thực lực nhất định về kinh tế.
Vấn đề phá giá đồng tiền: Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc giảm thấp
sức mua của đồng tiền so với các ngoại tệ. Kết quả của phá giá sẽ ảnh hởng trực
tiếp đến sự tăng hoặc giảm của tỷ giá hối đoái. Đây là điểm giống nhau giữa phá
giá đồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nhng không phải không có sự khác
nhau.
Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thờng xuyên liên tục của Nhà nớc
nhằm duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm
chế đẩy lùi lạm phát. Tỷ giá hối đoái đợc điều chỉnh theo nguyên tắc duy trì biên
độ dao động cho phép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với tỷ giá hối đoái đ-
ợc sử dụng làm chuẩn. Khác hẳn với phá giá đồng tiền, một biện pháp mạnh, cực
đoan, chỉ áp dụng trong những trờng hợp hết sức cần thiết.
6
Phá giá không phải là giải pháp đúng cho mọi trờng hợp. Nó phải đợc vận
dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể thích hợp. Nếu không hiệu
ứng tiêu cực của hành động phá giá sẽ đẩy tình hình vào thế khủng hoảng trầm
trọng hơn.
Bên cạnh giảm giá sức mua đồng nội tệ là việc nâng giá sức mua đồng nội tệ.
Nó thờng đợc áp dụng trong các trờng hợp:
- Giá hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu đợc xác định thấp so với giá trên thị trờng
quốc tế.
- Hạn chế xuất khẩu do sức ép của các nớc bạn hàng nhằm tạo thế cân bằng
trong thơng mại quốc tế.
- Tăng khả năng nhập khẩu, kiềm chế lạm phát.
- Ngăn ngừa các loại ngoại tệ đang bị mất giá tràn vào nớc mình.
Sự can thiệp điều hành tỷ giá trong lịch sử không phải luôn giống nhau. Thực
tế mỗi công cụ can thiệp điều chỉnh tỷ giá lại đợc vận dụng một cách linh hoạt t-
ơng ứng với mỗi điều kiện, chế độ tỷ giá cụ thể. Trong lịch sử đã xuất hiện các chế
độ bản vị vàng, bản vị đô la, chế độ tỷ giá thả nổi, chế độ tỷ giá linh hoạt, Các
chế độ này sẽ đợc nghiên cứu ở phần tiếp theo.
5-/ Các chế độ tỷ giá trong lịch sử:
Chế độ bản vị vàng: Khi áp dụng chế độ tỷ giá cố định lấy vàng làm bản vị
(còn gọi là chế độ bản vị vàng) thì việc lựa chọn phơng án xử lý tỷ giá ít phải đặt
ra vì chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền ít bị mất giá, tỷ giá xác
định qua nội dung vàng của các đồng tiền ít khi bị biến động. Trong chế độ bản vị
vàng thì biên độ dao động của tỷ giá là ngang giá vàng cộng (hoặc trừ) chi phí vận
chuyển vàng (vận tải, bảo hiểm, đóng gói và thủ tục phí, ) giữa các nớc hữu quan.
Biên độ dao động này gọi là điểm vàng. Khi tỷ giá vợt qua điểm vàng thì nớc
mắc nợ sẽ không dùng đồng tiền quốc gia của mình để mua ngoại tệ dùng vào việc
trả nợ mà họ sẽ chuyển vàng ra nớc ngoài để trả nợ. Với đặc trng này, chế độ bản
vị vàng là một chế độ ổn định, sức mua đồng tiền ít bị biến động. Để biết chế độ
bản vị vàng hoạt động nh thế nào ta hãy xem xét ví dụ sau: kho bạc Mỹ chấp nhận
đổi 1USD lấy 1/20 lạng vàng, ở Anh 1 Bảng đổi đợc 1/4 lạng vàng. Do đó, tỷ giá
hối đoái giữa đồng Bảng Anh và đồng USD Mỹ là 1 Bảng = 5 USD. Bây giờ đồng
Bảng Anh bắt đầu tăng giá cao hơn 5 USD. Nếu một ngời nhập khẩu Mỹ mua thực
phẩm ở Anh trị giá 100 Bảng thì họ phải trả nhiều hơn 500 USD so với trớc. Song
ngời nhập khẩu có cách lựa chọn khác, đó là mua vàng bằng 500 USD ở Mỹ rồi trả
7
số vàng đó sang Anh để thanh toán tiền hàng. Việc chở vàng sang Anh rẻ hơn khi
giá đồng Bảng Anh vẫn cao hơn giá 5 USD (cộng thêm số tiền chi phí vận chuyển
vàng từ Mỹ sang Anh).
Việc chuyển vàng từ Mỹ sang Anh làm cho cơ số tiền tệ của Anh tăng lên và
cơ sở tiền tệ của Mỹ giảm xuống. Kết quả tăng lên trong cung ứng tiền tệ làm tăng
mức giá cả của Anh trong khi việc cung ứng tiền tệ của Mỹ giảm xuống làm mức
giá cả của Mỹ giảm xuống. Kết quả mức giá tại Anh tăng lên so với mức giá tại
Mỹ làm cho đồng Bảng Anh giảm giá. Quá trình này tiếp tục cho đến khi giá trị
của đồng Bảng Anh giảm xuống trở lại bằng 5 USD.
Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế t bản chủ nghĩa, chế độ này tỏ ra có
nhiều u điểm. Nó có khả năng điều tiết khối lợng tiền tệ trong lu thông một cách
tự phát, không cần đến sự can thiệp của Nhà nớc theo cơ chế: Sự tăng giảm khối l-
ợng tiền tệ trong lu thông luôn tỷ lệ nghịch với sự tăng giảm dự trữ vàng kim loại
trong nền kinh tế.
Chế độ tỷ giá cố định Bretton woods (1944). Theo chế độ này, tỷ giá chính
thức giữa đồng tiền của các nớc thành viên đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm
lợng vàng của USD Mỹ (1 USD = 0,888671 gam vàng) và chỉ đợc phép dao động
trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã đợc đăng ký tại quĩ tiền tệ quốc tế
(IMF). Nếu vợt quá biên độ này thì Ngân hàng Trung ơng phải can thiệp bằng
cách mua vào hoặc bán ra một số lợng USD nhất định. Theo chế độ này, vàng vẫn
đóng vai trò trung tâm để so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau qua cái cầu
nối là USD (lúc bấy giờ 1 ounce = 35 USD).
Từ cuối những năm 50 trở đi, vai trò của Mỹ ngày càng giảm sút trên thị tr-
ờng thế giới, cán cân thanh toán quốc tế thờng xuyên bị thâm hụt, dự trữ suy giảm
và nợ nớc ngoài tăng đã làm cho đồng USD ngày càng mất giá nghiêm trọng.
Sự mất giá liên tục của đồng USD làm cho nạn đầu cơ trên các thị trờng hối
đoái quốc tế tăng lên. Hàng tỷ USD đợc tung ra trên thị trờng để mua cái đồng tiền
đợc giá. Các Ngân hàng Trung ơng của các thành viên IMF cũng không đủ sức can
thiệp để giữ giá đồng USD theo nguyên tắc tỷ giá cố định Bretton-woods. Trong
bối cảnh đó, Mỹ buộc phải phá giá đồng USD. Đồng USD - đồng tiền chủ chốt,
chỗ dựa cho các đồng tiền khác, trở nên bất ổn định kéo theo sự sụp đổ của chế độ
tỷ giá Bretton-woods.
Chế độ tỷ giá thả nổi (Floating rate): Chế độ tỷ giá thả nổi ra đời sau khi
chế độ tỷ giá cố định Bretton - woods sụp đổ. Với chế độ tỷ giá thả nổi, tỷ giá đợc
hình thành trên cơ sở diễn biến của cung và cầu ngoại hối trong nền kinh tế mà
8
không bị ràng buộc nh trớc đây. Tỷ giá thả nổi có vai trò rất quan trọng trong điều
tiết xuất - nhập khẩu và góp phần làm ổn định trở lại nền kinh tế đang có nguy cơ
suy thoái.
Thả nổi tỷ giá là xu hớng tất yếu của kinh tế thị trờng, song việc áp dụng nó
nh thế nào lại là vấn đề phải cân nhắc kỹ để lựa chọn. Do đặc điểm phát triển kinh
tế - xã hội của các nớc trên thế giới còn có những sự khác nhau nhất định nên tuỳ
vào hoàn cảnh cụ thể mà các nớc tự lựa chọn cho mình một chế độ phù hợp. Đến
nay chế độ tỷ giá thả nổi đợc chia làm 2 loại:
- Chế độ tỷ giá thả nổi tự do.
- Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý.
Chế độ tỷ giá thả nổi tự do là chế độ mà tỷ giá hối đoái không có sự can thiệp
nào của Chính phủ hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trờng quyết định, tuy
nhiên trên thực tế thì hầu nh không có chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Chế độ tỷ
giá này đợc áp dụng ở những nớc có nền kinh tế phát triển cao, thị trờng tài chính
phát triển và hoàn chỉnh.
Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là chế độ mà trong đó cung - cầu ngoại hối
là cơ bản, nhng không phải hoàn toàn, trong những trờng hợp cần thiết Chính phủ
sẽ có những biện pháp can thiệp nhằm giữ vững sự ổn định sức mua đồng tiền
trong nớc.
Lựa chọn chế độ tỷ giá nào luôn là bài toán hóc búa đối với mọi quốc gia.
Thực tế đã chứng minh đó là cả một nghệ thuật. Trong lịch sử, nhiều quốc gia đã
thành công trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá thích hợp. Bên cạnh đó, không ít
quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc sai lầm khi lựa chọn chế độ tỷ giá. Qua đây,
chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích vận dụng vào thực tế ở Việt Nam. Kinh
nghiệm lựa chọn chế độ tỷ giá một số nớc và thực trạng lựa chọn chế độ tỷ giá ở
Việt Nam sẽ đợc phân tích sâu hơn ở Phần II.
9
phần II
kinh nghiệm một số nớc và thực trạng áp dụng
chế độ tỷ giá ở việt nam
I-/ Kinh nghiệm lựa chọn chế độ tỷ giá ở một số nớc
Chế độ tỷ giá cố định, thả nổi tự do hay thả nổi có quản lý đều có mặt tích
cực và mặt hạn chế nhất định. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá nào phải căn cứ vào
điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Nó phụ thuộc vào mục tiêu, chính sách phát
triển kinh tế xã hội trong từng thời kì. Mỗi chế độ tỷ giá lại có một cơ chế hoạt
động riêng. Việc vận dụng sáng tạo, hợp lý chế độ tỷ giá vào nền kinh tế không
phải đơn giản, dễ dàng. Thực tế, việc lựa chọn chế độ tỷ giá không hợp lý sẽ dẫn
đến những hậu quả khôn lờng. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới đã cho
thấy điều đó.
1-/ Đức:
Nớc Đức lựa chọn cho mình chế độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nớc.
Chính phủ Đức đã can thiệp điều hành tỷ giá để chống lại khủng hoảng kinh tế
(sản xuất giảm tuyệt đối, lạm phát cao, thất nghiệp hàng loạt) đầu những năm 80.
Chính phủ Đức ma toan tìm lối thoát thông qua giải pháp mở rộng xuất khẩu
bằng lợi thế phá giá, thế nhng năm 1980 khi DM mất giá 12% lại là năm Đức có
mức xuất siêu thấp nhất (8,9 tỷ DM). Lúc đó ở Đức có hai cách nhìn nhận vấn đề
phá giá. Một là, sẽ cải thiện. Hai là, làm giá nhập khẩu tăng, khuyến khích lạm
phát lên cao.
Đến lợt mình lạm phát tất yếu tác động tiêu cực vào xuất khẩu, sản xuất. Vậy
là hiệu ứng phá giá tan mất, tình hình thêm phức tạp. Còn các chủ xuất khẩu Đức
thừa nhận phá giá DM hoàn toàn không thể khắc phục khó khăn.
Kề từ 1/1980 cha đầy hai năm, DM đã 5 lần mất giá so với USD với mức
đáng kể (14 đến 15%), song tỷ giá lại nhanh chóng quay trở lại mức xuất phát
điểm trớc khi phá giá.
Chiến lợc khôi phục kinh tế của Đức lúc bấy giờ thất bại, ngoài các nhân tố
nội địa, còn chịu tác động không thể cỡng nổi từ chính sách đồng tiền nặng của
Chính quyền Rigân (vốn từ Đức, Anh tháo chạy sang Mỹ, Canada, ).
10
Vấn đề kinh tế của Đức chỉ đợc giải quyết khi Chính phủ mới của ông
Hellmut Kol áp dụng phơng sách khác: giảm can thiệp Nhà nớc; sử dụng các cơ
chế, chính sách tài chính; giảm mạnh thuế; khuyến khích sản xuất nội địa; thực thi
chính sách thắt chặt.
2-/ Mêhicô:
Khủng hoảng ở Mêhicô là bài học có giá cho việc lựa chọn, điều chỉnh tỷ giá
hối đoái và quản lý ngoại hối. Sau khủng hoảng nợ 1982, với sự hỗ trợ của IMF,
Mêhicô đã cải cách và điều chỉnh kinh tế dựa trên các định hớng chính sách tài
chính thắt chặt, sử dụng tỷ giá hối đoái nh một chỗ dựa danh nghĩa, cải cách cơ
cấu (t nhân hoá, tự do hoá ngoại hối và ngoại thơng, cải cách lại các khoản nợ, )
nhằm tạo khả năng thanh toán nợ nớc ngoài, tạo cơ sở phát triển cho khu vực t
nhân,
Kết quả của cuộc cải cách (1988-1997) đợc thế giới đánh giá là rất thành
công trên nhiều mặt: chuyển từ thâm hụt ngân sách (12% GDP năm 1988) sang
bội thu trong các năm 1996-1997 (trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ
42% xuống 35% bằng Mỹ, thuế thu nhập cá nhân từ 50% xuống 35%). Lạm phát
từ 160% năm 1987 còn 8% năm 1997; dự trữ ngoại tệ tăng mạnh (80 tỷ USD năm
1997), tăng trởng kinh tế từ 0% (1985-1988) lên 8% GDP trong các năm (1993-
1997), việc cơ cấu lại nợ đã khôi phục và mở rộng quan hệ của Mêhicô và các tổ
chức tài chính quốc tế.
Sau đó, kinh tế Mêhicô có nhiều biểu hiện xấu đi, mầm mống của khủng
hoảng xuất hiện, nhất là từ năm 1998:
- Thâm hụt cán cân thanh toán 6,5% GDP năm 1997 đã là lớn; năm 1998 lên
tới 8% GDP và chủ yếu đợc tài trợ bởi các nguồn vốn vay ngắn hạn (việc tăng giá
nội tệ và giảm tích luỹ t nhân là một nguyên nhân của tình hình trên), dự trữ ngoại
tệ giảm còn 6 tỷ USD vào năm 1998 thiếu khả năng bảo vệ giá trị đồng nội tệ.
- Mêhicô phải đơng đầu với việc lãi suất trên thị trờng quốc tế tăng nhanh.
Ngoài ra, còn phải chuộc lại 28 tỷ USD trái phiếu ngắn hạn bằng ngoại tệ. Hơn
nữa, Chính phủ phải bng bít tình hình ngày càng xấu đi của nền kinh tế trớc cuộc
bầu cử.
Trong bối cảnh đó Chính phủ lại quyết định phá giá đột ngột đồng nội tệ. Vì
vậy nó đã trở thành ngòi nổ cho cuộc đại khủng hoảng. Mặc dù IMF tài trợ 50 tỷ
USD nhng Mêhicô vẫn không cải thiện đợc tình hình.
Bài học rút ra từ sự kiện này là:
11
Thứ nhất, sự mở cửa ra thị trờng quốc tế ngày nay đòi hỏi có trách nhiệm
thực hiện quyết định đúng đắn trong chính sách kinh tế. Sự thận trọng và tuân thủ
các nguyên tắc là phơng thức hiệu quả nhằm chống lại các biến động của thị trờng
quốc tế. Mêhicô đã phải trả giá đắt cho việc nới lỏng kiểm soát và để mặc cho thị
trờng tự do thực hiện các quy luật của mình.
Thứ hai, thâm hụt cán cân thanh toán lớn chứa đựng nhiều nguy hiểm, nhất là
khi chúng đợc sử dụng vào tiêu dùng nội địa và đợc tài trợ bằng các nguồn vốn
ngắn hạn.
Thứ ba, việc phá giá nội tệ vào tháng 10/1998 cho thấy điều chỉnh tỷ giá hối
đoái thích hợp là hết sức khó khăn ngay cả khi sự thay đổi đó là cần thiết. Hơn
nữa, các biện pháp vĩ mô đi kèm và hỗ trợ là hết sức quan trọng, đảm bảo chắc
chắn các đòi hỏi của thị trờng và đa ra một tỷ giá hối đoái hợp lý. Chính phủ quyết
định phá giá 20% (từ 3,4 Peso/USD xuống 4,5 Peso/USD) nhng thực tế không giữ
nổi mức này và đồng Peso giảm thêm 22% thành 5,5 Peso/USD.
Thứ t , cuộc khủng hoảng cho thấy sẽ phải trả giá đắt khi những thông tin th-
ờng xuyên, kịp thời về các chỉ số kinh tế quan trọng không đợc công bố đúng lúc.
3-/ Các nớc ASEAN và NICs
Các nớc ASEAN và NICs theo đuổi chính sách tỷ giá ổn định, hớng về xuất
khẩu. Theo đó, việc can thiệp vào tỷ giá của Chính phủ nhằm ổn định tỷ giá, ổn
định môi trờng kinh tế vĩ mô, thu hút đầu t nớc ngoài. Không một nớc nào chủ tr-
ơng phá giá làm động lực cho xuất khẩu, vai trò của tỷ giá chỉ là hỗ trợ.
Việc điều chỉnh tỷ giá ở các nớc này có một số điểm chung:
Thứ nhất, do khó khăn về tài chính, thiếu ngoại tệ nghiêm trọng nên lúc đầu
họ áp dụng nhiều loại tỷ giá, nội tệ định giá cao trong cơ chế cố định. Sau thời kì
1971-1973 thực hiện phá giá, sau đó nhanh chóng thống nhất tỷ giá chính thức và
thị trờng.
Thứ hai, khi đạt đợc tỷ giá thị trờng cân đối, họ áp dụng cơ chế điều chỉnh
theo quan hệ cung - cầu là chính. Các nớc gắn nội tệ vào giỏ ngoại tệ mạnh.
Thứ ba, các nớc nỗ lực ổn định hoá các quan hệ tỷ giá, tỷ giá hối đoái thực
tế, có dự trữ ngoại tệ để khống chế biên độ dao động của tỷ giá ở mức thấp.
Thứ t , khi tỷ giá tăng họ điều chỉnh tỷ giá để không cản trở xuất khẩu, song
luôn gắn bó việc điều chỉnh này với nhiệm vụ khống chế lạm phát.
12
Thứ năm, nhìn chung đồng nội tệ của các nớc này có xu hớng tăng giá ổn
định so với USD.
Việc duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định, ổn định hoá các quan hệ tỷ giá h-
ớng vào xuất khẩu trong thời gian đầu đã phát huy tác dụng và đạt hiệu quả cao.
Tuy nhiên việc theo đuổi chế độ tỷ giá này trong một thời gian dài đã dẫn đến
những bất cập. Nó là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu á vừa qua. Khi nợ nớc ngoài đến thời kì đáo hạn lại là lúc cán
cân thanh toán quốc tế thâm hụt nghiêm trọng. Mặc dù nguồn ngoại tệ lúc này
khan hiếm nhng hoạt động xuất khẩu lại bị chững lại. Do đó nguồn thu ngoại tệ
không đủ bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai. Chính phủ các nớc vẫn tiếp tục tung
dự trữ ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá cố định. Lợi dụng tình hình đó, nhà đầu cơ
ngời Mỹ Soros đã đầu cơ vào đồng tiền các nớc ASEAN. Khi ngoại tệ khan hiếm
tới đỉnh điểm, đồng nội tệ có nguy cơ phải phá giá thì Soros bán khống một lợng
lớn nội tệ ra thị trờng làm cho đồng bản tệ hoàn toàn mất giá. Chính phủ Thailand
phải tuyên bố phá giá đồng Bath, mở đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính Châu á,
chấm dứt chế độ tỷ giá cố định.
Qua các sự kiện Mêhicô, khủng hoảng ở Đức, bão táp tài chính ASEAN
chúng ta có thể rút ra nhiều bài học bổ ích. Việc theo đuổi, áp dụng chế độ tỷ giá
nào là cả một nghệ thuật. Nên chăng Việt Nam sẽ gắn chặt đồng nội tệ với đồng
tiền nớc khác, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định (nh các nớc ASEAN) hay sẽ
chủ trơng thả nổi hoàn toàn tỷ giá và phá giá nội tệ để chống đỡ khủng hoảng, h-
ớng về xuất khẩu. áp dụng máy móc một chế độ tỷ giá nào đều là sai lầm bởi vì
mỗi chế độ tỷ giá đều có mặt mạnh và mặt hạn chế. Việc lựa chọn, áp dụng chế độ
tỷ giá nh thế nào là hợp lý, phù hợp với đặc thù của Việt Nam sẽ đợc phân tích kỹ
ở phần tiếp theo.
II-/ Thực trạng áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam
1-/ Bối cảnh áp dụng chế độ tỷ giá thời gian qua ở Việt Nam
Từ ngày 25/11/1955 tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam và Nhân dân tệ
(NDT) của Trung Quốc là: 1 NDT = 1.470 VNĐ, 1 Rúp (Liên Xô) = 0,5 NDT, tỷ
giá chéo là 735 VNĐ = 1 Rúp. Sau đổi tiền (1959) tỷ giá VNĐ với Rúp và NDT
thay đổi. Đến năm 1977 các nớc XHCN thoả thuận thanh toán với nhau bằng đồng
Rúp chuyển nhợng (RCN). Mỗi RCN có hàm lợng vàng là 0,98712 gam.
Bên cạnh tỷ giá trên, Nhà nớc còn dùng tỷ giá thanh toán nội bộ để thanh
toán giữa các tổ chức và đơn vị có thu - chi ngoại tệ với Ngân hàng ngoại thơng,
13
tính thu - chi ngân sách Nhà nớc khi nhận viện trợ bằng đồng Rúp và cấp phát cho
các tổ chức kinh tế để thanh toán với các đơn vị ngoại thơng.
Tỷ giá kết toán nội bộ đợc điều chỉnh nh sau:
Năm 1958 : 1 Rúp = 5,64 VNĐ
Năm 1986 : 1 Rúp = 18 VNĐ
Năm 1987 : 1 Rúp = 150 VNĐ
Năm 1988 : 1 Rúp = 700 VNĐ
Đến tháng 3/1989 huỷ bỏ chế độ kết toán nội bộ.
Trong thời gian này quan hệ kinh tế đối ngoại của ta chủ yếu với các nớc
XHCN, nhất là khối SEV, nên quan hệ của VNĐ chủ yếu là với đồng Rúp. Còn
với các đồng tiền chuyển đổi tự do thì không đợc xác lập chính thức.
Chế độ tỷ giá trên đây có một số đặc trng:
Một là, tỷ giá đợc xác lập nhằm phục vụ cho kế hoạch do Nhà nớc quyết
định, không xuất phát từ yêu cầu thực tại của nền kinh tế thị trờng trong và ngoài
nớc. Tỷ giá hối đoái giữ vai trò thụ động (chủ yếu làm chức năng thanh toán, công
cụ để lập kế hoạch), cha phải là công cụ điều chỉnh vĩ mô thực thụ.
Hai là, do việc xác lập tỷ giá hối đoái duy ý chí, không tuân thủ qui luật kinh
tế, các quy trình kinh tế ngay cả với kinh tế kế hoạch. Vì vậy, nó không chỉ cản trở
các quan hệ kinh tế của ta với khối SEV mà còn gây nhiều khó khăn trong trao
đổi, thanh toán nội bộ, trong công tác quản lý điều hành của Nhà nớc, thủ tiêu
động lực đối với hoạt động xuất khẩu.
Ba là, do sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngân sách Nhà nớc nên
việc tính toán và phản ánh thu - chi ngân sách Nhà nớc bị sai lệch nghiêm trọng,
làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân sách Nhà nớc, đặc biệt là khâu
quản lý và sử dụng vốn.
Sau khi có chủ trơng thu hút vốn nớc ngoài (1985) và thông qua luật đầu t nớc
ngoài (1987) luồng ngoại tệ bằng USD lần lợt vào Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta
chỉ dùng tỷ giá chính thức do Ngân hàng Trung ơng áp đặt nên vẫn còn khoảng
cách khá xa so với sức mua thực tế của USD và thị trờng chợ đen.
Đơn vị tính: VNĐ/1 USD
Năm Tỷ giá chính thức Tỷ giá thị trờng
1985 15 115
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét